Chào mừng bạn đến thăm nhà tôi!

This website is updated with the latest news about me and belongs to me.
If you want to use my articles, please contact me :)
Everyone has some secrets they cannot share. Please be a polite reader.
Don't be too curious about things that are none of your business! A million thanks!!!



Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014

Cõi Tiên, Trời và A-tu-la

CÕI TIÊN
Thường các kinh nguyên thủy (thời kỳ đầu) thì nói có sáu đạo, nhưng các kinh đại thừa thì thêm một đạo nữa là cõi tiên. Như vậy, chúng ta có bảy cõi là cõi trời, tiên, a-tu-la, người, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Phần trước đã nói về địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh, chương này sẽ nói đến ba cõi là cõi tiên, cõi trời và a-tu-la.
Tiên là những chúng sinh trên loài người, nhưng không nương theo giới định tuệ, không biết tam-ma-đề, lại riêng tu theo vọng niệm, để tâm củng cố hình hài, vào trong rừng núi, những chỗ người ta không đến được, thành mười thứ tiên. Mười thứ tiên như sau:
“A Nan, các chúng sinh kia, kiên cố dùng đồ bổ mà không dừng nghỉ, khi đạo ăn được thành tựu, thì gọi là Địa hành tiên.
Kiên cố dùng cỏ cây mà không dừng nghỉ, khi đạo thuốc được thành tựu, thì gọi là Phi hành tiên.
Kiên cố dùng kim thạch mà không dừng nghỉ, khi đạo hóa chất được thành tựu, thì gọi là Du hành tiên.
Kiên cố làm những động tác mà không dừng nghỉ, khi khí tinh được thành tựu, thì gọi là Không hành tiên.
Kiên cố luyện nước bọt mà không dừng nghỉ, khi nhuận đức được thành tựu, thì gọi là Thiên hành tiên.
Kiên cố hấp thụ tinh hoa mà không dừng nghỉ, khi hấp thụ được thành tựu, thì gọi là Thông hành tiên.
Kiên cố làm thuật phù chú mà không dừng nghỉ, khi thuật pháp được thành tựu, thì gọi là Đạo hành tiên.
Kiên cố chuyên chú tâm niệm mà không dừng nghỉ, khi chuyên niệm được thành tựu, thì gọi là Chiếu hành tiên.
Kiên cố về thủy hỏa giao cấu mà không dừng nghỉ, khi cảm ứng được thành tựu, thì gọi là Tinh hành tiên.
Kiên cố tập luyện biến hóa mà không dừng nghỉ, khi giác ngộ được thành tựu, thì gọi là Tuyệt hành tiên”.
“A Nan, các vị ấy đều ở trong loài người mà luyện tâm, tuy không tu chính giác, nhưng riêng được lẽ sống, thọ ngàn vạn tuổi, nghỉ ở trong núi sâu hoặc trên đảo giữa bể cả, cách tuyệt chỗ người ở; đó cũng là vọng tưởng luân hồi lưu chuyển. Nếu không tu phép Tam muội, thì khi quả báo hết rồi, trở lại tản vào trong lục đạo”[1].
Tiên là những người bỏ chốn thế gian ồn náo, vinh hoa phú quý, danh lợi thị phi, ẩn mình trong hang, trong núi, hải đảo, nơi mà loài người không đến được để tu theo những pháp củng cố hình hài, trường thọ sống lâu, chớ không tu tập theo giới định tuệ.
Do tu nhân riêng biệt thành quả hư vọng, do tu luyện pháp trường sanh nên tiên cũng có thần thông, khinh an, sống thọ, nhưng dù có thọ đến đâu thì tiên vẫn còn bị chi phối bởi luật sanh tử và cũng có ngày thân này phải tan mà đọa lạc.
1. Địa hành tiên: đồ bổ của những người tu tiên, chỉ có họ mới biết với nhau, mình mà dùng nhiều đồ bổ thì nó thành độc, phải có những món thuốc đặc biệt. Một số vị kiên cố dùng đồ bổ, chuyên dùng những loại chất bổ không dừng nghỉ. Khi chất bổ này thành tựu thì vị tiên đó đi trên mặt đất rất nhẹ nhàng vậy.
2. Phi hành tiên: vị này nếm theo vị của từng loại cỏ cây, biết loại nào trị bịnh nào, loại dược thảo nào dùng vào khiến cơ thể khoẻ mạnh, khoan khoái, bình an. Như các ông lang thầy thuốc, cắt, phơi khô hay sao cây cỏ lên, rồi nghiền nát thành bột, bào chế dùng để trị bịnh. Cũng thế do chuyên dùng cỏ cây, các loại thuốc dược thảo nên cơ thể các vị tiên rất khoan khoái an ổn. Và tiên luyện như vậy liên tục, không dừng nghỉ. Khi thuốc này thành tựu thì tiên phi hành như bay, đi như bay.
3. Du hành tiên:     trong đá có nhiều loại ngọc, vàng, kim khí, đá ngọc rồi tiên mài, nấu, ngâm, bào chế các chất này thế nào đó để họ dùng được. Kiên cố bền tâm lâu dài dùng các loài bào chế này không dừng nghỉ. Khi công phu thành tựu thì vị này sẽ đi nhanh như chạy, để thấy cái khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cứng cáp của cơ thể.
Ở đỉnh núi Thị vải, Bà-rịa, Vũng Tàu, có một người sống ở đấy. Chỗ ở của ông chỉ là một cái lều, nằm ngủ ở trên một cái chõng và trồng mấy cây bắp rau để ăn. Ông làm nghề đi gánh thuê buôn bán dưới chân núi. Thế cho nên buổi sáng ông phải từ đỉnh núi đi xuống chợ gánh thuê để lấy tiền sinh sống. Đến chiều xong việc rồi lại lên núi tiếp.
Từ chân núi đến đỉnh núi là chúng ta phải trèo hì hục mất cả ngày, nhưng chân ông bước nhanh như chạy thoăn thoắt như thỏ mà không bám vào đâu cả, thoáng một cái ông đã đến đỉnh núi rồi. Chắc là kiếp trước ông có tu tiên, được quả du hành tiên này nên kiếp này thật lạ lùng là lên đỉnh núi mà ở một mình yên tĩnh và đi nhanh như chạy.
4. Không hành tiên: kiên cố bền chí hoạt động, tập thể dục có phương pháp, những động tác có bài bản. Tập như thế không ngừng, như đây đã nói hai chữ kiên cố, thì mới hy vọng thành công, chứ không phải là dễ được. Khi phương pháp tập khiến cho cơ thể nhẹ mạnh này được thành tựu, vị tiên này đi được ở trong hư không, đi như thoảng qua gió mà mình không hay.
5.Thiên hành tiên: kiên cố luyện nước bọt không dừng nghỉ. Nước bọt rất bổ và chuyên dùng luyện. Khi nhuận đức này thành tựu thì vị này gọi là Thiên hành tiên.
6. Thông hành tiên: kiên cố hấp thụ tinh hoa không dừng nghỉ. Buổi sáng, trưa, chiều, tiên hướng về mặt trời nhìn đăm đăm vào mặt trời để thâu cái tinh khí của mặt trời. Khi luyện thành tựu thì vị này gọi là Thông hành tiên.
7. Đạo hành tiên: kiên cố luyện những loại phép thuật phù chú bay loạn không dừng nghỉ. Khi thuật pháp được thành tựu thì gọi là Đạo hành tiên.
8. Chiếu hành tiên: kiên cố chuyên chú tâm niệm không dừng nghỉ. Các vị này cũng có phép thuật của họ, chuyên một câu nào đó khi thành tựu thì thành Chiếu hành tiên có ánh sáng chiếu quanh tiên.
9.Tinh hành tiên: thủy hỏa giao cấu giao nhau không dừng nghỉ. Khi cảm ứng được thành tựu thì gọi là Tinh hành tiên.
10. Tuyệt hành tiên: kiên cố tập luyện biến hoá không dừng nghỉ. Khi thành công mà đây tiên gọi là giác ngộ thì thành Tuyệt hành tiên.
Như vậy, tiên cũng có từng danh hiệu riêng nhau. Tu tiên nhưng mỗi người tu mỗi cách, ở đây Phật nói cho chúng ta biết là có mười loại tiên.
Mỗi vị tiên, Đức Phật đều nhắc lại hai chữ kiên cố tức phải có công phu tinh tấn không dừng nghỉ. Những việc tu luyện này phải bền tâm lâu dài và mắc công, chứ không qua loa cho xong mà được đâu. Kiên cố và có tâm luyện tập, tiên phải hơn mình vì có tinh thần, sức khoẻ và sống thọ, nhưng cũng không phải là tiên không chết. Hết phước, hết thọ rồi thì tiên cũng đọa, nên Đức Phật cũng khuyên chúng ta không nên nguyện tu theo những hạnh này, vì  còn lẩn quẩn trong tam giới.

CÕI TRỜI DỤC GIỚI (còn dục)
A Nan, các người thế gian, không cầu đạo thường trụ, chưa có thể rời bỏ được sự ân ái với vợ mình, nhưng tâm không buông lung trong việc tà dâm, do tâm đứng lặng sinh ra sáng suốt, sau khi mệnh chung ở gần với mặt trời, mặt trăng; một loài như thế, gọi là Tứ Thiên Vương Thiên.
Đối với vợ mình, dâm ái ít ỏi, trong lúc tịnh cư, không được toàn vị, thì sau khi mệnh chung, vượt ánh sáng mặt trời, mặt trăng, ở trên chóp nhân gian; một loài như thế, gọi là Đao Lợi Thiên.
Gặp cảnh dục tạm theo, bỏ đi không nhớ nghĩ, ở trong nhân gian, động ít, tĩnh nhiểu, thì sau khi mệnh chung, sáng rỡ ở yên trong cõi hư không, ánh sáng mặt trời, mặt trăng không soi đến được; và những người ấy tự mình có ánh sáng; một loài như thế, gọi là Tu Diệm Ma Thiên.
Lúc nào cũng tĩnh, nhưng khi có cảm xúc đến bên mình, chưa chống đối được, thì sau khi mệnh chung, lên trên chỗ tinh vi, không tiếp với những cảnh nhân thiên cõi dưới, cho đến gặp hoại kiếp, tam tai cũng không đến nơi; một loài như thế, gọi là Đâu Suất Đà Thiên.
Chính mình không có tâm dâm dục, chỉ đáp ứng với người khác mà làm, trong lúc phô bày, vô vị như ăn sáp, thì sau khi mệnh chung, vượt lên sinh vào cảnh biến hóa; một loài như thế, gọi là Lạc Biến Hóa Thiên.
Không có tâm thế gian, chỉ đồng với thế gian mà làm việc ngũ dục; trong lúc làm việc ấy, rõ ràng là siêu thoát, thì sau khi mệnh chung, vượt trên tất cả những cảnh biến hóa và không biến hóa; một loài như thế, gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên.
A Nan, sáu cõi trời như thế, hình thức tuy khỏi động, nhưng tâm tính còn dính dấp; từ các cõi ấy trở xuống, gọi là Dục Giới[2].
Dục giới là những vị này chưa rời bỏ được ân ái, dục nhiễm. Họ tu thập thiện, thiền định, bố thí nhưng vẫn còn dục nhiễm. Tùy theo lòng dục giảm nhẹ đến đâu thì ở trên cõi trời cao đến nấy. Các vị trời dục giới thân hình tuy không động nhưng tâm còn dấu vết. 
Từ cõi trời dục giới thứ sáu trở xuống là từ cõi Tha hoá tự tại thiên trở xuống vẫn còn bị tam tai tức cõi dục giới còn tam tai. Tam tai: có lửa (vì có dục nên còn lửa), gió (thổi tan xác đi), bão lụt (nước nhận chìm).
Cõi dục giới thứ sáu là cõi trời Tha hoá tự tại thiên: chỉ đồng thế gian mà làm việc ngũ dục. Như chúng ta không thiết ăn nhưng đến bữa cơm vẫn vào ngồi ăn mà không có cảm giác gì. Tuy là đáp ứng vợ chồng nhưng dục cảm vô vị tức tâm vị trời này không thiết tha nữa, nên siêu thoát.
Từ trạng thái chán dục này mới bước lên cõi trời sắc giới là không còn dục nữa.
Đức Phật khi sắp thành Phật rồi mà ngài ở cõi trời Dục giới là một cõi rất thấp trong các cõi trời. Voi trắng sáu ngà từ cung trời Đâu Suất thiên (cõi thứ tư của dục giới) giáng trần. Thật ra đây là Đức Phật hiện thân ở cõi trời Đâu Suất chứ không phải bị nghiệp lực và đọa ở cảnh ấy. Vì nguyện lực, bồ tát mới hiện thân ở cõi ấy. Tương lai Đức Phật Di Lặc cũng từ Đâu Suất xuống ta bà.
Các đức Phật vì nguyện lực giáng sanh xuống trần, khi tái sanh đều giáng sanh vào dòng thắng lưu có phước đức tức là dòng thù thắng, tức là cõi trời hoặc ngài sanh vào dòng quý phái Thích Ca vua chúa sát-đế-lợi là giới quan quyền thượng lưu trong xã hội, còn nghèo hèn tầm thường gọi là hạ lưu.
Tu nhân gì để về cõi Đâu suất? Phải có thiền định, phải có thập thiện, tâm dục nhẹ.
Đâu Suất nội viện khác với Đâu suất là thế nào?
Đối với những tầng trời sắc và vô sắc, những cõi trên, thì Đâu Suất hãy còn nặng nghiệp lắm.
Nội viện Đâu suất là những vị có duyên với Đức Phật Di Lặc. Viện là chỗ an trú viện của Đức Phật Di Lặc. Người nào có duyên, có nguyện chịu sự giáo hoá của Đức Phật Di Lặc thì chọn cõi Đâu suất nguyện về vì có Đức Phật Di Lặc giảng pháp. Đức Phật Thích Ca cũng ở đấy để giảng pháp. Giảng Thắng Pháp tập yếu luận cho mẫu hậu Ma-ya trong bảy ngày.

CÕI TRỜI SẮC GIỚI (ly dục)
A Nan, tất cả những người tu tâm trong thế gian, không nhờ Thiền na, thì không có trí tuệ.
Người nào giữ được cái thân không làm việc dâm dục, trong lúc đi, lúc ngồi, đều không nghĩ  nhớ, lòng ái nhiễm không sinh, không còn ở trong Dục Giới, thì bản thân liền được làm phạm lữ; một loài như thế, gọi là Phạm Chúng Thiên.
Tập quán ngũ dục đã trừ rồi, tâm ly dục hiện ra, vui vẻ thuận theo các luật nghi, thì người đó liền có thể thực hành những phạm đức; một loài như thế gọi là Phạm Phụ Thiên.
Thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, uy nghi không thiếu, cấm giới trong sạch, lại có thêm trí sáng, thì người đó liền được thống lĩnh phạm chúng, làm Đại Phạm Vương; một loài như thế gọi là Đại Phạm Vương.
A Nan, ba loài tốt đó, tất cả khổ não không bức bách được; tuy không phải chân chính tu phép Tam ma đề của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc của Dục Giới không lay động được, nên gọi là Sơ Thiền.
A Nan, thứ nữa, các hàng Phạm Thiên khi thống lĩnh phạm chúng, lại tu tập phạm hạnh được viên mãn, làm cho tâm đứng lặng không lay động, và do sự đứng lặng ấy, sinh ra sáng suốt; một loài như thế gọi là Thiểu Quang Thiên.
Hào quang sáng suốt thêm nhiều, chói sáng không cùng, ánh vào thập phương thế giới đều thành trong sáng như ngọc lưu ly; một loài như thế, gọi là Vô Lượng Quang Thiên.
Nắm giữ hào quang viên mãn, tạo thành giáo thể, phát ra sự giáo hóa thanh tịnh, ứng dụng không cùng; một loài như thế, gọi là Quang Âm Thiên.
A Nan, ba loài tốt ấy, tất cả lo buồn không bức bách được; tuy không phải chân chính tu hành phép Tam ma đề của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc thô động đã dẹp xuống, nên gọi là Nhị thiền.
A Nan, những loài trời như thế, khi dùng hào quang viên mãn làm việc giáo hóa, do sự giáo hóa càng rõ lẽ nhiệm mầu, phát ra hạnh tinh tiến, thông với cái vui yên lặng; một loài như thế gọi là Thiểu Tịnh Thiên.
Cảnh thanh tịnh hiện tiền, dẫn phát không có bờ bến, thân tâm được khinh an, thành cái vui yên lặng; một loài như thế gọi là Vô Lượng Tịnh Thiên.
Thế giới và thân tâm, tất cả hoàn toàn thanh tịnh, đức thanh tịnh được thành tựu, cảnh giới thù thắng hiện tiền, dồn về vui yên lặng; một loài như thế gọi là Biến Tịnh Thiên.
A Nan, ba loài tốt đó, đầy đủ công hạnh đại tùy thuận, thân tâm yên lặng, được cái vui vô lượng; tuy không phải chân chính được phép Tam ma đề của đạo Phật, nhưng trong tâm yên ổn, hoan hỷ được đầy đủ, nên gọi là Tam Thiền.
A Nan, lại nữa, những loài trời đó, thân tâm không bị bức bách, nguyên nhân của khổ đã hết, lại xét cái vui không phải thường trụ, lâu rồi cũng phải tiêu tan, nên cả hai tâm khổ và vui, đồng thời đều phóng xả; những tướng thô nặng đã diệt, thì phúc thanh tịnh sinh ra; một loài như thế, gọi là Phúc Sinh Thiên.
Tâm phóng xả được viên mãn, sự nhận hiểu cao xa càng thanh tịnh; trong cái phúc không gì trở ngại đó, được sự tùy thuận nhiệm mầu cùng tột vị lai; một loài như vậy, gọi là Phúc Ái Thiên.
A Nan, từ cõi trời đó, có hai đường trẽ : Nếu dùng cái tâm sáng suốt thanh tịnh vô lượng trước kia, mà tu chứng an trụ nơi phúc đức viên mãn sáng suốt, thì một loài như thế, gọi là Quảng Quả Thiên.
Nếu nơi cái tâm trước kia nhàm chán cả cái khổ và cái vui, lại nghiền ngẫm cái tâm phóng xả, tiếp tục không ngừng, đi đến cùng tột sự phóng xả, thân tâm đều diệt hết, ý nghĩ bặt mất, trải qua năm trăm kiếp, người ấy đã lấy cái sinh diệt làm nhân, thì không thế phát minh tính không sinh diệt, nên nửa kiếp đầu thì diệt, nửa kiếp sau lại sinh; một loài như thế gọi là Vô Tưởng Thiên.
A Nan, bốn loài tướng tốt ấy, tất cả những cảnh khổ, vui trong thế gian không lay động được; tuy không phải là chỗ bất động chân thật của đạo vô vi; song, nơi cái tâm hữu sở đắc, công dụng đã thuần thục, nên gọi là Tứ Thiền.
A Nan, trong đó, lại có năm bậc Bất Hoàn Thiên, các vị này đã diệt hết tập khí chín phẩm tư hoặc trong cõi dưới rồi, khổ, vui không còn, bên dưới không có chỗ ở, nên an lập chỗ ở nơi chúng đồng phận của tâm phóng xả.
A Nan, khổ, vui cả hai đều diệt, không còn tâm niệm ưa ghét; một loài như thế, gọi là Vô Phiền Thiên.
Tự tại phóng xả, không còn năng xả, sở xả; một loài như thế, gọi là Vô Nhiệt Thiên.
Khéo thấy thế giới mười phương thảy đều đứng lặng, không còn tất cả những cấu nhiễm trầm trọng của trần cảnh; một loài như thế, gọi là Thiện Kiến Thiên.
Tri kiến thanh tịnh hiện tiền, sử dụng được không ngăn ngại; một loài như thế, gọi là Thiện Hiện Thiên.
Quán sát rốt ráo các cực vi, cùng tột tính của sắc pháp, vào tính không bờ bến; một loài như thế, gọi là Sắc Cứu Kính Thiên.
A Nan, những bậc Bất Hoàn Thiên đó, chỉ riêng bốn vị Thiên Vương Tứ Thiền được có kính nghe, nhưng không thể thấy biết; cũng như hiện nay, có các thánh đạo trường nơi rừng sâu đồng rộng thế gian, đều là những nơi trụ trì của các vị A La Hán, nhưng những người thô thiển thế gian không thể thấy được.
A Nan, mười tám loài trời đó, tâm thường ở trong định, không dính dáng với trần cảnh, song chưa hết cái lụy của hình hài; từ đó trở về, gọi là Sắc Giới[3].

Chúng ta có thể hiểu các cõi trời sắc giới như sau:
Sơ thiền: Phạm chúng thiên, Phạm Phụ Thiên. Đại Phạm Thiên.
Nhị thiền: Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang thiên, Quang Âm Thiên.
Tam thiền: Thiểu Tịnh thiên, Vô Lượng Tịnh thiên, Biến Tịnh thiên.
Tứ thiền: Phước Sanh Thiên, Phước Ái thiên, Quảng Quả thiên và Vô Tưởng thiên.
Ngũ Tịnh Cư Thiên:     Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt thiên, Thiện Kiến thiên, Thiện Hiện thiên, Sắc Cứu Cánh thiên.
Cõi sơ thiền tuy không phải chánh định, nhưng không có nhiễm, không có những lỗi lầm như của dục giới nên thoát được các khổ não. Các vị này đã thoát những dục tâm, ngũ dục (sắc thanh hương vị xúc) tuy nhiên họ vẫn còn cái lụy hình hài, nên gọi cõi sắc.
Như vậy, vừa lên đến sơ thiền là bắt đầu hết lòng dục.
Lên nhị thiền thì thoát ly được các ưu thụ, trong tâm thanh tịnh. Tất cả tuy không tu chánh định nhưng đã uốn dẹp được các thô lậu tức lầm lạc thô thiển.
Rồi lên đến cõi tam thiền thì rời bỏ được cái hỷ thọ ở nhị thiền, được cái vui khinh an vô lượng, nên thân tâm cho đến cảnh giới thảy đều thanh tịnh. Trong Phật giáo hay ví vui như vui ở cõi tam thiền.
Cõi tứ thiền đã thoát ly được các cảnh khổ, vui thế gian, nên tuy không phải là chánh định, nhưng trong tâm đã có chỗ sở đắc, công phu cũng đã bắt đầu thuần thục và phước báo cũng cao.
Các vị này tham, sân, si không hiện lên được, nếu loại bỏ được thì chứng A-la-hán, có định lực hàng phục được, nhưng còn ở trong đường luân hồi vì vẫn còn trụ pháp, trụ sắc thân.

CÕI TRỜI VÔ SẮC GIỚI (ly sắc thân)
Lại nữa, A Nan, từ chỗ cao nhất của Sắc giới, lại có hai đường trẽ. Nếu nơi tâm phóng xả, phát minh được trí tuệ, trí tuệ sáng suốt viên thông, thì ra khỏi cõi trần, thành vị A La Hán, vào Bồ Tát thừa; một loài như thế, gọi là Hồi Tâm Đại A La Hán.
Nếu nơi tâm phóng xả, khi thành tựu được sự phóng xả rồi, lại cảm thấy cái thân làm ngăn ngại và tiêu cái ngăn ngại ấy vào hư không, thì một loài như thế gọi là Không xứ.
Các chất ngại đã tiêu trừ rồi, nhưng không diệt được cái vô ngại, trong đó chỉ còn thức A lại da và còn nguyên vẹn phần nửa vi tế của thức Mạt na; một loài như thế, gọi là Thức xứ.
Sắc và không đã hiết, cái tâm biết là hết ấy cũng diệt trừ, mười phương vẳng lặng, không còn gì nữa; một loài như thế, gọi là Vô sở hữu xứ.
Thức tính vốn không lay động, lại dùng cái diệt mà diệt đến cùng; trong chỗ không thể hết, phát minh nhận cho là hết, nên hình như còn, mà không phải còn, hình như hết, mà không phải hết; một loài như thế, gọi là Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Bọn này xét cùng cái không, nhưng không tột lý không; nếu từ thánh đạo cõi trời Bất Hoàn mà xét cùng, thì một loài như thế, gọi là Bất Hồi Tâm Độn A La Hán. Nếu từ cõi trời Vô Tưởng và ngoại đạo mà xét cùng cái không, không biết trở về, mê lầm không nghe chính pháp, thì sẽ vào trong luân hồi.
A Nan, trên các cõi trời đó, mỗi mỗi đều là những phàm phu hưởng sự báo đáp của nghiệp quả và khi sự báo đáp ấy hết rồi, thì trở vào trong luân hồi. Thiên vương các cõi kia, thường là Bồ Tát, dùng Tam ma đề mà lần lượt tiến lên, hồi hướng về đường tu hành đạo Phật.
A Nan, những cõi trời Tứ Không đó, thân tâm diệt hết, định tính hiện tiền, không có sắc pháp của nghiệp quả; từ đó đến cuối cùng, gọi là Vô Sắc Giới.
Bọn đó, đều do không rõ Diệu giác minh tâm, chứa nhóm cái vọng, mà giả dối phát sinh ra ba cõi, giả dối theo bảy loài trong đó, mà chìm đắm và cá thể thụ sinh cũng theo từng loài[4].
Các vị này chẳng những thọ mà đến tưởng cũng không, nhưng còn ở trong hành ấm. Coi như lạc ở Vô sắc rồi thì không còn trần tướng, hôn trầm, ngũ trược, căn cảnh đối nhau.
Dục giới:   còn dục và còn sắc,
Sắc giới:    hết dục nhưng còn sắc,
Vô sắc giới: không dục và không sắc và những cõi này xa xôi lắm, không biết gì. Ở trong định lực thấy không, thấy huyễn, nhưng không nắm được lý không để nhận được tánh chân không, thành ra trụ vào cái không không đó, khi hết định lực thì đọa xuống nên vẫn còn luân hồi.

Các vị này vẫn còn thức mạt na vi tế và chưa biết rõ đường đi tam-ma-đề. Các ngài ở cõi vô sắc giới xả được phần thô mà chưa xả được phần vi tế vì không biết làm sao mà xả. Còn thân là còn chướng ngại, các ngài không còn thân nữa nhưng còn vô ngại, còn trụ định là ta. Bởi vì thức a-lại-da tuy nó vô ngại nhưng nó vẫn còn chấp trì. Nên các vị này vẫn còn thức thực và tư thực trong bốn thực (như đã nói ở phần tam tiệm thứ), vẫn còn thức chấp duy trì mạng vị.

CÕI A-TU-LA
Lại nữa, A Nan, trong ba cõi trời ấy, còn có bốn giống A tu la.
Nếu từ loài quỷ, do sức bảo hộ chính pháp, được thần thông vào hư không, thì giống A tu la này, từ trứng sinh ra, thuộc về loài quỷ.
Nếu từ cõi trời, đức kém phải sa đọa, chỗ ở gần với mặt trời, mặt trăng, thì giống A tu la đó, từ thai sinh ra, thuộc về loài người.
Có chúa A tu la, nắm giữ thế giới, sức mạnh đến chỗ không phải sợ ai, có thể tranh quyền với Phạm Vương, Đế Thích và Tứ Thiên Vương; giống A tu la này, nhân biến hóa mà có, thuộc về loài trời.
A Nan, riêng có một số A tu la thấp kém, sinh ra trong lòng biển lớn, lặn trong thủy huyệt, ban ngày đi chơi trên hư không, tối về ngủ dưới nước; giống A tu la này, nhân thấp khí sinh ra, thuộc về loài súc sinh.
A-tu-la là loài quỷ thần hay còn gọi là phi thiên (không phải các vị trời như vừa nêu trên). Tuy a-tu-la có thần thông biến hoá, nhưng còn nhiều lòng sân hận, tranh đấu hơn thua sát phạt nên không được lên cõi trời.
Có bốn loại a-tu-la:
1. A-tu-la trời (do hoá sanh),
2.     A-tu-la người (do thai sanh),
3.     A-tu-la quỷ (do noãn sanh),
4.     A-tu-la bàng sanh (do thấp sanh).
Trong vòng luân hồi, Đức Phật minh họa hình ảnh a-tu-la là tay cầm cung tên, đao gươm và đánh chém tranh hơn tranh thua sát phạt với nhau.[5]
Đây là những cõi tu nhân riêng biệt mà gặt quả hư vọng nên còn luân hồi.

6 cõi Luân Hồi là gì ?

Sau khi qua đời, "Hồn" hay Thân trung ấm sẽ chuyển vào một trong 6 cõi tùy theo Nghiệp mà khi còn sống đã tạo nên. Dưới đây là tính cách của 6 cõi mà kinh sách gọi là Lục Đạo.
Luân là bánh xe; hồi là xoay tròn; luân hồi là sự xoay chuyển , lên xuống của mỗi chúng sinh trong 6 cõi, khi đầu thai cõi này, khi đầu thai cõi khác, tiếp nối tử sinh, sinh tử không ngừng. Hình ảnh bánh xe xoay tròn là hình ảnh rất rõ ràng mà Phật dùng để chỉ sự xoay chuyển, lên xuống ấy.

SÁU CÕI LUÂN HỒI LÀ GÌ ?

1. Cõi Trời (chư thiên, thần tiên có phép thuật, hình dáng oai nghiêm hơn con người):
Là nơi thanh thoát an vui. Những người khi sống làm điều phước thiện tốt lành cũng như những đời trước đó đã tạo phước đức, tu niệm chân chánh thì khi chết sẽ vào nơi đây. Cảnh trí ở đây trong sáng tươi vui, không có sự lo buồn, tức giận, đau khổ hay chán chường. Cõi trời có cả thảy 26 cõi bao gồm: 6 cõi thuộc về dục giới, 16 cõi thuộc về sắc giới và 4 cõi thuộc về vô sắc giới. Nói về chi tiết thì cõi Trời rất rộng lớn chia ra nhiều tầng và mỗi tầng ứng với những cấp độ khác nhau về nghiệp lành ( phân chia theo mức độ phước báo).
Mẹ của thái tử Tất Đạt Đa, sau khi sinh ra Thái tử, nhờ phước báo sinh ra một vị Phật tương lai nên sau 7 ngày lìa bỏ thân người, thác sinh lên cung trời Đao Lợi. Bồ Tát Di Lặc hiện nay cũng ở trên cung trời Đâu Suất giáo hoá, chờ đủ nhân duyên để xuống giáo hoá nơi cõi Ta Bà này. Để sinh lên cõi trời cần giữ ít nhất 10 giới. Để sinh vào các tầng trời cao (phân chia theo phước báo chứ không phải độ cao vật lý) cần tu tập thêm thiền, nhập sơ thiền tới tứ thiền, rồi đến thiền phi tưởng xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ ...Màu sắc ở cỏi trời tỏa sáng, có nơi rực rỡ vì là cõi của Chư Thiên.
Sau khi chết tùy theo nghiệp lực đã tạo lúc sống là lành hay ác mà có thể được tái sinh trở lại hoặc bị đọa vào các cõi dưới.

2. Cõi Người (ta bà hay gọi là thế giới loài người):
Là nơi dành cho những ai mà Nghiệp tạo ra trước khi chết được xem là nghiệp lành - dĩ nhiên không phải ai cũng đều tạo nghiệp lành nhiều hơn nghiệp ác. Chi tiết thì cõi người lại chia thành nhiều quốc gia và nhiều dân tộc khác nhau, vì thế nên tuy vào nghiệp mà khi tái sinh thành người sẽ có người hạnh phúc người bần hàn, kẻ an vui, người đau khổ, có người được tái sinh vào nước văn minh, có người tái sinh vào nước man di.... nhưng có thể gặp được Chánh pháp mà tu tập giải thoát thành Phật. Đây là cảnh giới của những chúng sinh biết giữ theo Ngũ giới. Do đó kinh sách thường khuyên ta kiếp này được làm người là may mắn hãy cố gắng làm phước đức, tạo nghiệp lành để khi chết đi thành lại kiếp người sống hạnh phúc, an vui, sung sướng.. Màu sắc ở cõi người thường là mây vàng không chói sáng mà sáng đục.
Sau khi chết tùy theo nghiệp lực đã tạo lúc sống là lành hay ác mà có thể được tái sinh trở lại làm người hay sinh lên cõi Trời hoặc bị đọa vào các cõi dưới.

3. Cõi ATULA (hình dáng không oai nghiêm bằng cõi trời nhưng cũng có phép thuật):
Đây là thần thánh tính tình hung hăng nóng nảy, lại thêm tà kiến, si mê, tin theo tà giáo, là cảnh giới của những chúng sinh tạo nhiều nghiệp sân hận; là nơi hiện diện của những linh hồn của những con người mà khi còn sống thường kiêu hãnh vì được nhiều người kính nể do có công tu hành, học hỏi, luyện tập, cố gắng - Tuy nhiên họ lại là người tham danh lợi, thích tiếng khen, tự đắc, huênh hoang. Ví dụ như người tu hành tới cấp cao nhưng lại Tham - Sân - Si, thích tán tụng công đức, mỗi bước đi có lọng tàng che, chung quanh đầy kẻ hầu người hạ, thích được mọi người bái lạy, tôn xưng... Những tánh cách ấy đã tạo thành Nghiệp. Dù họ là người có công với đạo pháp, xây nhiều nơi tu tập cho mọi người nhưng không gột rửa được lòng tham luyến sân si, còn tức giận, nóng nảy được khen thì vui, bị chê thì nổi giận, hay phân biệt giàu nghèo sang hèn. Kinh Sách xưa gọi họ là Người không có phước báu lớn - Vì thế mà khi qua đời phải đọa vào cõi A Tu La. Cõi này gồm có hai tầng: Atula thượng là nơi tự do thoải mái hơn tầng Atula hạ. . Đây là nơi dành cho người nào lúc sống làm được nhiều điều lành nhưng không có phước báu lớn, lòng còn đầy tham luyến ích kỷ.. Còn Atula hạ dành cho người lúc sống làm nhiều điều thiện nhưng vẫn tạo ác nghiệp...Về màu sắc thì cõi Atula thường mơ hồ, phảng phất màu xanh lá cây . . .
Sau khi chết tùy theo nghiệp lực đã tạo lúc sống là lành hay ác mà có thể được tái sinh trở lại hay được sinh về cõi Trời hoặc bị đọa vào các cõi khác.
4) Cõi Địa Ngục (cõi âm, cũng là nơi chịu sự trừng phạt, đọa đày, cực hình):
Cõi này có màu sắc tối mờ hắc ám ghê sợ. Đây là nơi dành cho những linh hồn mà lúc còn sống là những kẻ đại gian ác, vô lương tâm, những kẻ chuyên tàn sát, khủng bố, những kẻ gây tai họa đau thương nghiệt ngả cho vô số đồng loại. Theo Tử Kinh Tây Tạng thì khi Hồn tới một nơi mà cảnh trí nơi đó tối tăm thấp thoáng những căn nhà màu đen, trắng xen kẻ, hay lẫn lộn kề bên những hố sâu thăm thẳm thì đó chính là cõi địa ngục.
Sau khi chết tùy theo nghiệp lực còn hay hết mà được tái sinh trở lại làm người hay phải đọa là súc vật hoặc quỷ đói.

5. Cõi Súc Sinh ( thế giới động vật):
Đây là cõi giới của những loài động vật, những loài thú vật, vì ngu si nên bị người ta đánh đập hoặc bị giết thịt , là cảnh giới của những chúng sinh tạo nhiều nghiệp si mê ... Những kẻ lúc sống ở thế gian chuyên chạy theo vật chất, ham muốn xác thân, những kẻ chuyên mua bán các loại cần sa, bạch phiến, hút xách, chứa chấp, chiêu dụ, bắt cóc đàn bà con gái hãm hiếp hay bắt làm gái chốn lầu xanh, làm việc đại gian đại ác - Theo Tử Kinh Tây Tạng thì người mới chết khi "hồn" còn ngơ ngác thấy những vùng đất trải dài đầy hang lỗ, động đá thế là hồn đang ở ngưỡng cửa của cõi Súc sanh - Màu sắc cõi này màu xám mờ mờ.
Ở cõi này cái chết thường kết thúc bi thảm do loài này ăn thịt loài kia một cách dã man.
Sau khi chết tùy theo nghiệp lực đã tạo trước đó tốt hay xấu mà được chuyển kiếp hoặc lại bị đọa trở lại cõi này.

6. Cõi Ngạ Quỷ (nơi bị đọa làm quỷ đói chịu vô lượng khổ):
Đây là cõi giới của những linh hồn mà khi còn sống đã rất tham lam, gian manh xảo quyệt, hối lộ tham nhũng, vơ vét của công giết người, cướp của nhất là của từ thiện làm của riêng mình, đặc điều vu khống cho người vô tù rồi ăn hối lộ thả ra hay tự khảo người để đoạt tình, đoạt tiền của... thấy người đói khát mà lòng không mảy may thương xót còn đánh đập xua đuổi. Màu sắc nơi cõi nga quỷ là màu đỏ bầm dữ tợn. Phước báo ít, chịu khổ nhiều. Cũng có nhều loại ngã quỷ, nhưng ngã quỷ có một đặc điểm chung là phải chịu đói khát. Mẹ ngài Tôn giả Mục Kiền Liên, do nghiệp tham lam bỏn sẻn đã từng sinh vào cõi Ngã quỷ (kinh Vu Lan).
Cõi này là cõi thê thảm nhất, khổ cực nhất trong 6 cõi. Địa Tạng Bồ Tát thường ghé qua cõi này để bố thí, cứu khổ cứu nạn mong luân chuyển nghiệp chướng cho những sinh linh tội lỗi, lầm lạc có cơ hội hồi hướng chuyển sang cõi khác.

* Theo các Lạt Ma Tây Tạng thì khi chết linh hồn người chết sẽ chuyển vào cõi giới nào đó và tùy theo tâm thức mà họ thấy được hình dáng, màu sắc sự vật nơi họ đến. Ngoài ra, tùy theo lòng tin vào tôn giáo của mình lúc còn sống như đối với những người theo Hồi giáo, Thiên Chúa giáo hay Bà La Môn họ... sẽ thấy cảnh trí trước mắt theo tâm thức riêng của tôn giáo họ đã qua Kinh sách từng đọc ví dụ.. người theo Thiên Chúa giáo họ có thể thấy Chúa Jesus, Đức Mẹ, hoặc thấy các Thiên Thần bay lượn hay sự xuất hiện của ác Thần, của Thiên sứ hay Quỷ Sa Tăng vân vân...

GÂY RA NHỮNG NGHIỆP NHÂN GÌ MÀ LUÂN HỒI VÀO LỤC ĐẠO ?
- Địa ngục: do tạo nhiều nghiệp ác nặng nề, phạm vào một trong các tội Ngũ nghịch ( giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, phá sự hòa hợp của Tăng chúng và làm thân Phật chảy máu hoặc không cung kính, làm ô uế hình tượng Phật), làm những điều trái ngược với luân thường đạo lý.
- Ngạ quỷ: do tạo nhân ham lam, bủn sỉn, không biết bố thí, giúp đỡ người khác, hoặc trộm cắp, cướp đoạt.
- Súc sinh: do tạo nhân si mê, sa đọa, không phân biệt tốt xấu, tin theo tà kiến.
- A-tu-la: do tạo nhân sân hận, hiếu chiến, thường giận dữ gây gổ. Thế nên những người làm nhiều việc thiện mà không trừ được tâm sân hận vẫn phải sinh vào cõi A-tu-la.
- Cõi Người: nhờ biết tu tập giữ theo Ngũ giới.
- Cõi Trời: nhờ biết tu tập Thập Thiện Nghiệp.

CON NGƯỜI CÓ VƯỢT QUA SÁU CÕI LUÂN HỒI ĐƯỢC KHÔNG ?
Con người có thể vượt qua 6 cõi Luân Hồi bằng cách tu hành đến những quả vị cao hơn như quả vị Bồ Tát, quả vị Phật, không còn luân chuyển trong con đường sinh tử nữa.
Thập Thiện Nghiệp - Mười Nghiệp Lành :

1. Không sát sinh: là không giết hại sinh mạng chúng sinh.
2. Không trộm cắp: là không lấy những gì thuộc về người khác, nếu họ không cho.
3. Không tà dâm : là sống chung thủy với vợ, chồng của mình.
4. Không nói dối: là không nói sai sự thật.
5. Không nói thêm bớt: là không nói thêm điều này, bớt điều kia.
6. Không nói hai chiều: là không đến chỗ này nói thế này nói thế nọ, đến chỗ khác lại nói thế kia gây chia rẽ, oán hận.
7. Không nói lời ác: là không nói lời thô tục, không trù ẻo kẻ khác.
8. Không tham lam: là không ham muốn quá độ.
9. Không giận dữ: là không tức tối hay giận hờn người khác.
10. Không si mê: là không mê mờ, ngu si, mà sáng suốt, trí tuệ.
Lợi ích của việc thực hành 10 điều lành

Thực hành được 10 điều lành, chúng ta sẽ có lợi ích như sau:

- Về thân: sống trường thọ, vợ chồng hạnh phúc, của báu dồi dào, không bị ai xâm đoạt.

- Về miệng: lời nói có giá trị, mọi người kính tin, không bị vu khống, giữ gìn được kho tàng chánh pháp.

- Về ý: được mọi người yêu mến, tâm bồ đề kiên cố, trí tuệ sáng suốt, đầy đủ hạnh lành, chóng thành tựu đạo quả.
Chúng ta đọc bài này để nắm chắc bản đồ rồi nhắm hướng đi cho cả cuộc đời mình. Biết chắc rằng tạo Nhân gì sẽ đầu thai vào cõi đó, vậy phải chọn lựa hành động, lời nói, ý nghĩ cho cẩn thận. Nếu không thoát khỏi Luân Hồi cũng cố gắng về được 3 cõi lành, tránh xa 3 cõi ác là Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc sinh . Thế là đã tốt, rồi sẽ tu tập thêm nữa. Nếu bị sinh vào 3 cõi ác thì xem như rất khó có cơ hội để nghe Phật Pháp, không có cơ hội tu hành.

Trí Châu - Sưu tầm từ nhiều nguồn

Thương về quán trọ

 

Biết rằng anh sẽ buồn
Ngày mai đến nhà tôi
Mong thăm người bạn cũ
Dừng bước chân dầu ngõ
Anh thấy nhà chơ vơ
Không tiếng cười trẻ thơ

Người người như đợi chờ
Một màu lam thương nhớ
Hỏi thăm anh mới biết
tôi lên dường tòng chinh
Giờ tôi nghiệp lính
Đời tôi đã vướng kiếp
phong trần rồi bạn ơi.

Những chiều vui thành phố
Anh có thương tôi đang
gác giặc ngoài biên khu
Hay hành quân rừng sâu
Bàn tay sạm nắng cháy
không còn như ngày xưa

Khoảng thời gian nào đó
Tôi chiếm huy chương xin
phép về nhà thăm anh
Mơ một đêm trời thanh
nằm chung chuyện vãn trút
tâm sự riêng bọn mình

Lúc này nơi quán trọ
Buồn vui có gì không
biên thư kể chuyện nhé
Làm lính oai hùng đó
Nhưng cũng nhiều gian lao
Anh biết rồi tại sao...

Đừng hẹn tôi ngày về
Vì đường xa thiên lý
Đời trai như chiến sĩ
Kinh Kha một lần đi
Bạn anh vì nước
Vì anh vì máu thắm
da vàng người Việt Nam.
 


Chiếc khăn gió ấm




Ở bên kia bầu trời, về đêm chắc đang lạnh dần.
Và em giờ đang chìm trong giấc mơ êm đềm.
Gửi mây mang vào phòng, vòng tay của anh nồng nàn.
Nhẹ nhàng ôm cho em yên giấc ngủ ngon.
Ở bên đây bầu trời, thì mưa cứ rơi hững hờ
Để tim anh cồn cào và da diết trong nỗi nhớ
Dường như anh nhớ về em.

Đk:
Gửi cho em đêm lung linh, và tiếng sóng nơi biển lớn.
Gửi em những ngôi sao trên cao,tặng em chiếc khăn gió ấm.
Để em thấy chẳng hề cô đơn, để em thấy mình gần bên nhau,
Để em vững tin vào tình yêu hai chúng ta.

Rồi cơn mưa đêm qua đi, ngày mai lúc em thức giấc
Nắng mai sẽ hôn lên môi em, nụ hôn của anh ấm áp
Và em hãy cười nhiều em nhé!
Vì em mãi là niềm hạnh phúc.... của anh mà thôi.

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

Chăm sóc sắc đẹp cho mùa lạnh


Mặc dù đang theo thần tượng tu tập, bớt ăn thịt nhiều, bỏ bớt sân si, tham lam, bỏ bớt tính tự cao tự đại, tự cho rằng mình xinh đẹp, thông minh nhưng Yun vẫn không bỏ được nhiều thứ như tình cảm chẳng hạn, mà đã có dính dáng tới tình cảm thì sẽ phát sinh ra khối thứ ngu xuẩn khác như muốn xinh đẹp (để đi kua đối phương chứ). Thôi thì cứ coi như bước đầu đường tu của Yun là hiểu được lí thuyết đã, còn thực hành thì…từ từ tính sau, hơn nữa Yun cũng đâu muốn trở thành Phật đâu, chỉ cần tâm đừng dao động sân hận như sóng biển là được

Hôm nay Yun chia sẻ một chút bí kíp làm đẹp trong mùa lạnh nhé, làm đẹp tự nhiên, nguyên liệu rẻ tiền và hiệu quả bất ngờ với những người có nhan sắc tơi tả như Yun sau những ngày tháng chạy rông ngoài đường cùng nắng, gió, bụi… Mùa lạnh lại là mùa làm cho chúng ta có nhan sắc tả tơi nhất khi da khô bong tróc, môi nứt nẻ, tóc xơ cứng…

Dành cho da: Lòng trắng trứng gà + vài giọt nướt cốt chanh + 1 muỗng mật ong trộn đều thoa lên mặt sau 15 phút rửa lại bằng nước lạnh sẽ giúp da mịn màng trở lại.

Dành cho tóc: Lòng đỏ trứng gà + vài giọt dầu ô liu trộn đều thoa lên tóc. Lấy một cái khăn lớn nhúng vào nước nóng sau đó quấn lên đầu để giúp hỗn hợp dưỡng tóc thấm sâu vào chân tóc. Khoảng 15 phút thì gội đầu lại với xà bông như bình thường.

Dành cho môi: Bôi một lớp mật ong lên môi có tác dụng dưỡng môi, chống nứt nẻ trong thời tiết lạnh này.

Tác dụng tích cực sau khi làm đẹp này là thấy mình xinh hơn, tóc mềm mại hơn. Tác hại của việc làm đẹp là khi đang ngồi sấy khô tóc và tự sướng với sự mềm mượt của mái tóc đẹp thì cậu em của Yun đi làm về nhảy vào nhà tắm nghe có mùi lạ, tức mùi tanh của trứng gà làm em ấy cằn nhằn với Yun, hahaha. Nói tới việc Yun nổi hứng làm đẹp cũng là vấn đề, ngày thường có bao giờ thèm chăm sóc đâu, dạo gần đây không hiểu sao mụn nổi đầy mặt nhìn như bánh tráng đậu phộng, khổ nỗi là sắp đi gặp anh ấy nữa, kiểu này thiếu tự tin quá nên dành một buổi chiều lọ mọ cho nhan sắc vậy.

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

Anh à em đã quyết định yêu anh!

Anh à, em là cái loại người hay phân vân, lựa chọn rồi chần chừ cộng thêm nhát gan để từ từ rồi...hết yêu. Em là loại người vậy đó.

Anh à, anh không ngoại lệ đâu, em gặp anh thì dĩ nhiên là muốn đùa giỡn với anh thôi, chứ lúc đó em đang thích người khác mà. Ai kêu anh lại tử tế quá đỗi làm em động lòng kia chứ? Lần đầu tiên em cảm thấy đi với anh thật thú vị, như là đi hẹn hò vậy, dù hai thằng chỉ là đi ngắm cảnh cùng nhau và cũng không có lấy một chút quá đà nào với nhau. Điều đó thực ra em rất ao ước đi cùng người em thích, nhưng vì người ấy không quý trọng tình cảm của em dành cho nên chưa bao giờ em được một lần nào đi chơi chung với người em thích cả. Anh xuất hiện như là một sự bù đắp, làm cho mong ước của em thành hiện thực. Em phát hiện ra rằng luật nhân quả cũng rất đúng trong tình yêu, nghĩa là em yêu chân thành ai đó mà không được đáp lại, thì tình yêu của em không hề biến mất. Anh đã xuất hiện như một giấc mơ còn gì.

Lần đầu em đi thăm anh, xuất phát từ sự nhớ nhung mãnh liệt. Em là người yếu đuối nhưng cũng lý trí. Em đâu dễ bỏ qua mọi thứ, kể cả vung vãi tiền bạc chỉ vì một điều vô ích, nhưng nghĩ tới việc được gặp anh thôi, là em sẵn sàng chấp nhận ăn mì gói cả tháng cũng cam lòng, chỉ cần gặp anh, em sẵn sàng gây cho mình một chút khó khăn rắc rối trong cuộc sống. Còn anh thì sao? Lúc gặp em anh cứ hỏi đi hỏi lại một câu là có phải em sang đây chỉ để thăm anh không. Em phải trả lời rất nhiều lần rằng chỉ đi thăm anh chứ không có việc nào khác. Lúc đó em thấy anh quay mặt đi và cười hạnh phúc. Có phải vì thấy em hâm mà anh cười không anh????

Hôm nay, anh bê nguyên cái lịch làm việc của anh cho em tham khảo, dự tính dành luôn văn phòng làm việc trong trường của anh cho em ở lại để em không mất tiền, anh không muốn em mất quá nhiều tiền bạc chỉ vì đi thăm anh. Em đã đi được thì có thể tự lo hết chi phí cho mình, nhưng được anh quan tâm dĩ nhiên là em vô cùng hạnh phúc. Hi hi hi. Em sẽ suy nghĩ lại lời đề nghị đó, mặc dù em rất sợ nếu sếp anh phát hiện ra có một người lạ ở lại phòng làm việc của anh sẽ kỉ luật anh đấy, em có thể đi tìm chỗ ở cho mình mà, trước đây đi một mình em đều tự lo được, có anh rồi em sẽ ỷ lại mất thôi.

Em hỏi anh có thích thứ này thứ kia không, anh bảo là anh thích mọi thứ. Có thể hiểu theo nghĩa là miễn sao em mang tới thì thứ gì anh cũng thích đúng không anh????? Có thể hiểu như thế được không anh? Hôm trước làn sóng biểu tình khá cao, em sắp sang nên anh rất lo lắng cho em. Em được nước lần tới hỏi anh rằng nếu em gặp rắc rối thì anh có bảo vệ em không. Anh đã trả lời rằng không, để mặc em tự lo lấy (No, let enjoy it). anh biết không, em buồn đến nỗi không ngủ ngon được đấy, thế là em giận không thèm nhắn  tin cho anh luôn. Em rất kì, giận là không bao giờ nói ra đâu, cứ giận âm thầm như thế, cho đến khi số lần giận vượt quá giới hạn là em sẽ xa anh đấy, cho nên người như em rất cần một bàn tay ấm áp giữ em lại.

Hôm nay em hết giận anh rồi, thấy anh hối hả đi làm để thu xếp sắp tới dẫn em đi chơi, anh xin lỗi em vì thời gian em tới lại là lúc anh quá bận, chỉ cần anh nói như thế thôi là được, còn lại em không quan tâm thời gian bên anh nhiều hay ít, miễn là ta sắp xếp để được bên nhau. Anh à, hôm nay em đã quyết định là sẽ yêu anh. Em nói thật đấy, em không dây dưa nữa đâu. Anh có yêu em hay không em mặc kệ, chuyện đó tính sau nhưng em phải yêu anh, vì không phải ai cũng tìm ra một người đáng yêu như anh để yêu đâu nhé. Dù phải yêu đơn phương em cũng cam lòng, em uống thuốc liều rồi anh ạ, đừng cản người vừa uống thuốc anh nhé !!!


Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2014

Một phút phân vân trước cánh cửa tình cảm

Lừng khừng mãi cái chuyện tình cảm cũng là một vấn đề không hay, suy nghĩ chờ cho đến "chín chắn" thì chắc lúc đó Yun cũng kịp hết yêu người ấy rồi nên...kì này Yun chủ động vậy. Dạo này không hiểu sao Yun rất hay mang chuyện tâm tư tình cảm của mình đi tâm sự với cậu em đồng nghiệp hotboy của Yun. Đặc biệt rất kì lạ là những lúc tâm trạng Yun không tốt lại là lúc em ấy xuất hiện chat chit nói chuyện phím và góp ý với Yun, nhờ vậy mà những lúc buồn tâm trạng Yun cũng khá hẳn lên, em ấy thật là dễ thương.  Được Hotboy động viên, Yun càng có quyết tâm làm liều ăn nhiều trong lần đi làm lâm tặc lần này, dĩ nhiên không phải duy nhất Hotboy là người động viên Yun đâu, Thần tượng của tôi và một số bạn bè cũng đang rất quan tâm đến chuyện của Yun và anh chàng CG đấy, hihihi. Nhiều người hậu thuẫn phía sau vậy phải can đảm thôi bạn nhỉ????

Nếu lần này đi làm lâm tặc mà không cưa cẩm được anh ấy thì Yun nghĩ mình cũng không phải việc gì buồn hay đau khổ cả, vì Yun biết sẽ không được suôn sẻ ngay từ lần đầu gặp anh ấy rồi, nhưng vì anh ấy là người có trái tim dịu dàng nên Yun muốn thử một lần, cho mình một cơ hội tốt, không phải lúc nào Yun cũng gặp được một người mà Yun thích như thế đâu, hihi. Mỗi lần nói chuyện điện thoại với anh xong cảm giác có rất nhiều năng lượng để làm việc. Yun nhớ anh chết được. Hôm nay sóng yếu nên điện thoại nghe câu được câu chăng, nhưng dù sao câu cuối cùng là câu Yun muốn nghe thì nghe rất rõ, hahaha. Yun cảm giác rằng cánh cửa tình cảm đã có cơ hội mở được, chỉ cần Yun đẩy cửa đi vào, nhưng sao Yun cứ đứng trước cánh cửa ấy và phân vân nhỉ? Làm gì có sự cản trở nào ngăn cản được Yun, sao Yun vẫn cứ suy nghĩ như 10 năm trước đây, thích được người khác chủ động trước với mình? Anh ấy rụt rè như vầy chắc không có cơ hội nào cho 2 đứa đâu nhỉ? Tình hình chính trị bên anh ấy không được tốt, lịch làm việc của anh lại kín mít luôn, chắc Yun chỉ nói với anh ấy được vài câu rồi đường ai nấy về quá.

Không biết từ lúc nào tâm tư tình cảm đều dành hết cho anh, không như những người khác được gặp người mình yêu quý thường xuyên, mỗi lần nhớ anh chỉ có thể xem hình, gửi tin nhắn, lâu thật lâu 2 người mới gọi điện thoại cho nhau (cả 2 thằng đều keo kiệt tiền điện thoại thì phải), Yun còn tuyên bố với bạn bè rằng việc nấu cháo điện thoại là không cần thiết, vì nếu không được gì có phải mình lỗ vốn nặng với tiền điện thoại không????? Hahahah. Dù xa vắng như thế, nhưng Yun không hề cảm thấy cô đơn hay phải đi kiếm một chàng trai nào đó đi chơi cùng, người nam tính như Yun thì bạn biết rồi đấy, nếu không thích thú Yun chẳng thèm hẹn hò đâu. Mỗi lần nhớ anh thay vì ra ngoài đi chơi với người khác, thì Yun luôn làm ngược lại là về nhà sớm và lọ mọ với những công việc của mình, đi chơi những lúc tâm trạng như thế thực sự không vui tí nào. Khi bạn yêu ai đó thật lòng, bạn sẽ không bao giờ kiếm người khác thay thế được đâu, mọi sự thay thế đều hoàn toàn vô nghĩa.

Trải qua nhiều lần yêu đơn phương, tự nhiên nhận ra mình tình cảm rất rõ ràng. Yêu rất nhiều nhưng đã buông tay là không thể rung động trở lại. Khi nào Yun sẽ hết yêu CG nhỉ? Yun nghĩ đến khi anh ấy có người con gái khác trong trái tim thì Yun sẽ từ bỏ anh ấy, chỉ khi nào CG có bạn gái Yun mới có động lực từ bỏ, còn bằng không Yun sẽ mãi yêu...Anh à, em nhớ anh, nhưng lại không nói được với anh trong điện thoại câu nói đó, em là giống xấu hổ mãn tính mà, ấm ức vô cùng!!!