Em từng lữ khách tha phương
Phải chăng vì thế vấn vương sông hồ
Hẹn người em biết chốn mô?
Tìm người em biết nơi mô mà tìm?
Ngang dọc anh dấu chân in
Hẹn em, anh gửi tấm hình cho em
Anh à, em ngốc chưa quen
Phải chăng anh lại sợ em lạc đường?
Nhớ anh chín nhớ mười thương
Nhớ em sao chỉ gửi em bản đồ?
Phải chăng em giống khù khờ?
Nên người kĩ tính hoạ đồ cho em.
Trang
Chào mừng bạn đến thăm nhà tôi!
This website is updated with the latest news about me and belongs to me.
If you want to use my articles, please contact me :)
Everyone has some secrets they cannot share. Please be a polite reader.
Don't be too curious about things that are none of your business! A million thanks!!!
If you want to use my articles, please contact me :)
Everyone has some secrets they cannot share. Please be a polite reader.
Don't be too curious about things that are none of your business! A million thanks!!!
Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014
Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014
Trốn tết
30 năm trời, lần đầu tiên không ăn Tết ở nhà, bỏ gia đình, bỏ cả các huynh đệ trong sư môn đi chơi một mình
(sư môn của Yun cũng sẽ rồng rắn cùng nhau phượt vào dịp Tết này, tiếc thật).
Vì sao Yun trốn Tết?
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu ?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu.
Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp, người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non.
Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết ở trong đời
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người.
1. Ngày Tết, sinh ra rất nhiều lễ
nghĩa, đi loanh quanh hành xác chúc Tết, nếu không đi thì có trốn ở nhà cũng bị
kéo đến và bị chúc. Tóm lại, là chỉ có 2 lưa chọn: Đi chúc hoặc được chúc. Chúc
qua chúc lại năm nào cũng như năm nào, ăn mấy cái hạt dưa bánh trái nổi mụn như
hột xoàn, ngày tết tới đâu cũng được (phải) ăn một chút. Ôi, mệt phờ râu, thế
mới biết nhà thơ Trần Tế Xương xưa kia đã có tư tưởng hiện đại như thế nào:
Lẳng lặng mà
nghe nó chúc con
Sinh năm đẻ
bảy được vuông tròn
Phố phường
chật hẹp người đông đúc
Bồng bế nhau
lên, nó ở non.
(Tế Xương)
2. Tục lệ lì xì ngày Tết cũng
không nhẹ nhàng tí nào, tới nhà ai mà có con nít mà không lì xì thì hoặc bị
chúng nó đòi (đối với những gia đình không biết cách giáo dục con cái) hoặc là
bị bố mẹ chúng nó nghĩ thầm: “Ngày tư ngày Tết mà cũng keo kiệt với bọn nhỏ
chút tiền lì xì”. Đâu phải chỉ có một bọn nhỏ? Bạn có bao nhiêu mối quan hệ
trong xã hội???? Đếm xem tiền lương của bạn có đủ tiền lì xì không nhé. Đối với
một viên chức nghèo như Yun thì thật là thê thảm với hủ tục này. Lúc Yun đi học
thì không sao, giờ đi làm mà không lì xì là nguy to. À, thế thì ở nhà trốn vậy,
xin thưa, không dễ ăn đâu, ở nhà thì sẽ có người tới thăm, hahahah, hết đường
chạy nhé!!!!! Trong quan niệm của Yun, Yun rất ít lì xì cho con nít, Yun thường
lì xì cho người lớn tuổi, những người không đi làm được và có hoàn cảnh khó
khăn, có phải Yun đang làm ngược truyền thống????
3. Ngày tết hiện nay không phải
là ngày sum họp như truyền thống tốt đẹp các cụ ngày xưa. Ngày tết hiện nay là
ngày để những cái đầu tinh vi làm ăn, buôn quan bán tước hối lộ tinh vi, tạo
mối quan hệ khăng khít để sang năm…cùng nhau hợp tác làm ăn thuận lợi. Ngày tết
không hề được ở nhà như lí thuyết, chạy rông đi chúc tết sụt hết 2kg là ít. Cả
năm làm mệt, ngày tết mệt hơn. Thêm nữa là bạn bè đàn đúm ăn nhậu, đốt tiền, hết
ăn nhậu rồi cờ bạc chơi bời, lê lết từ nhà này sang nhà khác, người như Yun đố
mà yên thân ở nhà được (năm nào cũng bị bạn tới nhà lôi tuồn tuột khỏi tay bố
mẹ một cách ngoạn mục). Thành ra mang tiếng ở nhà ăn tết nhưng muốn ăn bữa cơm
với gia đình cũng chẳng được yên!!!!!!
4. Sư môn Yun có tư tưởng hiện
đại, tức là trốn Tết. Các sư phụ của Yun rất ám ảnh cảnh học trò, bạn hữu và dây mơ rễ má tới
chúc Tết, có đôi khi tiếp hết lượt này tới lượt khác mệt phờ râu, nên các sư
phụ nào khoẻ còn đi được là bỏ 2 bộ đồ vào va li rồi dông lên núi du ngoạn sơn
thuỷ cho hết mùa Tết (giờ này một số sư phụ đã ra giang hồ rồi đấy, chẳng thèm nán lại ăn một bữa tất niên với đám nhóc tì như Yun luôn, còn Yun phải đi trễ vài ngày vậy), các sư phụ già yếu thì cực chẳng đã phải nằm nhà chịu
trận, hahahah. Các anh chị em thế hệ trẻ cỡ Yun cũng học tập được tinh thần ấy,
xách ba lô lên và dông cho nhanh còn kịp. Hôm rồi, Yun ghé thăm sư phụ trước
Tết, có khai với sư phụ là Tết Yun sẽ không ghé được vì phải đi trốn Tết rồi
(giống như đi trú Đông ấy), sư phụ thở phào nhẹ nhõm và ủng hộ quyết định của
Yun.
5. Ngày Tết, ghét nhất là nhận
được mấy cái tin nhắn đại trà từ lúc giao thừa tới mấy ngày hôm sau…Quan tâm
người nào thì mới gửi tin nhắn chúc chứ, đâu phải ỷ nhiều tiền kiếm cái tin
nhắn có sẵn send một lượt hết trong danh sách như bố thí của vậy????? Nói thật,
người nào có ý chúc Yun như thế Yun chả dư hơi mà trả lời đâu.
6. Đôi điều còn lăn tăn là có một
số bạn sẽ thắc mắc là Yun làm như thế sẽ phá vỡ truyền thống dân tộc, đó là
ngày tết là ngày sum họp. Tuy nhiên như Yun đã trình bày ở trên, ngày Tết có
sum họp được đâu, Yun có ăn được bữa cơm nào cho ra hồn với gia đình đâu. Cho
nên theo Yun, ngày nào yên thân ngồi ăn bữa cơm đạm bạc với gia đình cũng là
ngày đoàn viên, ngày Tết hết, cớ gì phải nhất nhất là ngày Tết??? Thứ nữa là sẽ
có bạn thắc mắc là Yun bảo sợ tốn tiền lì xì, sợ tốn tiền ăn nhậu sao lại không
sợ tốn tiền đi du lịch. À, vậy Yun giải thích rõ luôn. Với 3 triệu tiền xe cộ
và ăn uống đạm bạc Yun có thể đi vi vu cả tuần ngắm cảnh, chứ với 3 triệu mà ở
nhà mấy ngày Tết như năm nay là không xong đâu, chỉ cần tới mùng 3 là không còn
giữ được đồng nào nữa. Năm ngoái Yun chẳng lì xì mấy, hạn chế đi chơi mà sau
khi ra tết, Yun còn cầm có hơn 30 ngàn trong tay thôi đấy, cái tết nhớ đời của
Yun và sẽ không bao giờ Yun còn có can đảm “ăn tết” ở nhà nữa đâu.
Tết là thời gian nghỉ ngơi sau
một năm làm việc vất vả, ăn cùng gia đình bữa cơm đầm ấm, đi thăm họ hàng, bạn
bè cả mà năm trời bận rộn chưa có dịp gặp mặt chứ không phải những người hàng
ngày gặp nhau đến chán (thậm chí trong năm hục hặc với nhau suýt sứt đầu mẻ
trán) tới tết lại đến nhà nhau chúc qua chúc lại hành xác lẫn nhau, nếu không
đi thăm được lại buông lời trách cứ. Sao chúng ta lại tự hành hạ nhau thê thảm
vậy nhỉ? Thôi Yun đi trốn tết đây.
Chúc tết (Trần Tế Xương)
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu ?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu.
Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước; đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.
Đứa thì mua tước; đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.
Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp, người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non.
Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết ở trong đời
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người.
Quỡn cuối năm
Hai đứa con gái chính hiệu đàng hoàng, không les liếc gì cả,
và không đứa nào xấu xí thô kệch giống tướng con trai, không hiểu sao cuối năm
lại có cái màn tán tỉnh nhau thế này đây:
An VN:
Em là con bé tắc kè bông
Khi thì xù lông, khi mềm lòng
Lúc đóng “giang hồ”, lúc “công chúa”
Cá tính, điệu đàng, thấy được không?
Khi thì xù lông, khi mềm lòng
Lúc đóng “giang hồ”, lúc “công chúa”
Cá tính, điệu đàng, thấy được không?
Wei Yun:
Anh là lãng tử hay chạy rông
Thấy em mềm lòng, ít xù lông…
Anh thích giang hồ lẫn công chúa
Nếu anh phải lòng có được không?
Thấy em mềm lòng, ít xù lông…
Anh thích giang hồ lẫn công chúa
Nếu anh phải lòng có được không?
An VN:
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng đã khép không cho ai vào.
Vườn hồng đã khép không cho ai vào.
(Nàng An VN này tuyệt
tình thật)
Wei Yun (cố gắng chày cối):
Bây giờ mận chẳng hỏi đào
Cổng rào mận cứ leo vào leo ra
Biết đào không có chó nhà
Vì đào đã nói bên tường mận kia…
(Số là nàng ta lỡ miệng bảo không thích động vật bên tường
facebook nhà Yun rồi, kekeke)
Tết Ông Táo
23 Tết âm lịch, ông Táo về trời theo quan điểm của nhân gian. Về chầu trời, Táo sẽ bẩm báo với Ngọc Hoàng những sự kiện trong năm của gia đình mà Táo trú ngụ. Xem xét trong 6 cõi luân hồi, Yun nghĩ Táo thuộc cõi A- tu – la quỷ thần, tức có phép thần thông nhưng vẫn còn sân hận. Vì vậy nên tối hôm qua 22 Tết, Yun bàn với em út rằng tuy chỗ ở của chị em Yun chỉ là chỗ tạm bợ nhưng cũng nên cúng ít hoa quả, nhang khói cho Táo về trời vui vẻ. Em út nghe thế thì Ô kê con gà đen luôn
Sáng nay, ngày cuối cùng lên sư môn dạy học, thấy nhang khói
và hoa quả nghi ngút. Các đệ tử hỏi Yun, Yun cười: “Hôm nay Táo về trời mấy đứa
à”. Các đệ tử ồ lên một tiếng như đã thông hiểu, rồi mấy cô trò len lén nhìn.
Sư tỷ (người mà tiềm năng cao nhất sẽ thay thế sư phụ lãnh đạo sư môn trong
tương lai gần) đang được các sư phụ và sư mẫu đứng cạnh hướng dẫn thắp nhang và
cầu nguyện. Nhìn gương mặt sư tỷ xinh đẹp, thanh thoát trong lòng Yun cảm thấy
rất vui. Sư tỷ và sư đệ những người sẽ là lãnh đạo tiềm năng trong tương lai
đều bước đến thắp nhang một cách nghiêm trang, các sư mẫu đứng cạnh gương mặt
cũng nghiêm trang không kém, khi thấy Yun giương to mắt ếch ra nhìn thì sư mẫu
mỉm cười phúc hậu lại với Yun. Yun tuy cũng là đứa con của sư môn, nhưng thuộc
hạng vô danh tiểu tốt, không có cống hiến gì đáng kể cho sư môn cả, chỉ là hay
gây ra tai hoạ thôi, cho nên khi thấy sư tỷ và sư đệ của mình tương lai sẽ chấp
chính thì trong lòng có chút ấm áp và ngưỡng mộ vô cùng. Tuy vậy nhưng Yun là
người thích rong chơi, không thích quyền lực nhé, hahaha.
Đây là thời khắc cuối, Yun được nhìn thấy sư môn của mình
với cơ sở vật chất từ thời 15 năm trước đây, khi Yun lần đầu bước chân vào
trường, trở thành một thành viên thực sự. 15 năm kỉ niệm, nơi Yun đã rung động
tình yêu lần đầu, nơi Yun biết rằng tình bạn cũng rất cao quý như những thứ
tình cảm khác, nơi Yun biết rằng vẫn còn nơi có những người thầy tâm huyết, tận
tuỵ dành cả đời mình cho giáo dục, và cũng chính là nơi Yun bị đức độ của Sư
phụ cảm hoá, từ đó đưa Yun đến với nghề sư phạm và con đường trở về với sư môn
hiền hoà – Nơi gốc hoa Ngọc Lan, Hoa Sứ đã già theo năm tháng…Sang năm sư môn
sẽ được xây lại với một lối kiến trúc mới, đã 20 năm trôi qua?????? Trại xuân
năm nay sẽ là trại xuân cuối tại mái nhà xưa.
Mở facebook ra, thấy có tin nhắn của một người, không phải
ghi những lời lẽ yêu thương gì sất, mà chỉ là những câu hướng dẫn: “Em đón xe
trung chuyển từ sân bay đến Trung tâm vận tải hành khách rồi sau đó đi xe bus
số xxx tới trạm cuối và chờ anh tại toà nhà ABC, anh phải đi làm nên tới sớm
thì đừng lo lắng mà chịu khó chờ anh. Trung tâm vận tải hành khách nằm trong
sân bay, xe trung chuyển miễn phí và xe bus hết 30bath thôi, đừng quên đó nhé”.
Dù không phải là một câu hỏi quan tâm tới sức khoẻ nhưng sao vẫn thấy vui. Thực
ra chỉ cần hẹn ở một địa điểm nào đó là Yun giang hồ này vẫn biết mò tới nơi
được, nhưng nếu hướng dẫn cẩn thận thế thì cảm giác hạnh phúc hơn nhiều, dù gì
người ta cũng con gái mà.
Trời cuối năm, thời tiết lạnh nhưng trong lòng không hề
lạnh. Chúc mọi người đón Tết cổ truyền ấm áp.
Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014
Bố và con gái
Con gái có một chút tư chất thông minh, nhưng vì bản chất mẫn cảm, văn thơ thuộc lòng từ rất sớm, một ngày có thể đọc thuộc nửa cuốn tập đọc vanh vách. Bố bảo con gái bố thông minh thế đừng học mấy cái văn chương dở hơi ấy làm gì, học toán mới giúp cho trí tuệ thông thái được. Con gái nghe lời bố, say mê với toán học từ nhỏ, đâm nghiện sự hóc búa của các bài toán rồi trở thành người hiếm hoi nổi tiếng về giỏi toán trong vùng, bố có vẻ hài lòng lắm.
Con gái lớn lên, thông minh, xinh
đẹp, hiếu chiến và... nam tính - sản phẩm do bố đào tạo. Con gái có nhiều biến
đổi tâm lí, ít thân thiện với bố như hồi còn nhỏ. Một lần con gái mua cho bố
cái áo nhờ số tiền đi làm ít ỏi dành dụm được. Tưởng rằng đem tặng bố sẽ làm bố
cảm động, ai ngờ bố chê cái áo ấy một cách thậm tệ, dù dưới con mắt của con
gái, cái áo ấy không tệ chút nào, lại là loại khá đắt tiền. Con gái ấm ức, thề
rằng sẽ không bao giờ mua áo cho bố nữa.
Con gái đi làm nhiều năm, không
giàu có nhưng không đến nỗi chạy từng bữa ăn như hồi đi học. Con gái không hề
mua áo cho bố kể từ sau lần bị bố chê chiếc áo đầu tiên ấy. Một tối, con gái đi
trên đường dịp cận tết, thấy các gian hàng quần áo treo đầy đường, trời năm nay
rét đậm hơn mọi năm, con gái mặc chiếc áo ấm mà tay vẫn run run khi chạy xe. Bất
chợt, con gái dừng xe lại, mua cho bố một chiếc áo sơ mi và một chiêc áo gió. Lâu
nay con gái chưa hề thấy bố có chiếc áo gió nào. Tối về, con gái nhắn tin: “Con
có mua cho bố cái áo gió, bố cũng có tuổi rồi những lúc đi ngoài đường cũng nên
mặc áo ấm vào, trời năm nay rất lạnh”. Chưa đầy 5 phút thì bố trả lời: “Đừng
mua, bố không mặc đâu”. Con gái tức lên, ngang bướng nhắn lại: “Con mua rồi”. Con
gái hồi hộp chờ đợi tin nhắn của bố, như hồi nhỏ vẫn thường hồi hộp chờ đợi kết
quả sau những cuộc tranh luận giữa 2 cha con xem ai thắng. Lát sau bố nhắn trả
lời: “ Cũng được”. Con gái nhìn cái tin nhắn, rơi nước mắt, hình như con gái-
người tự phụ là mình rất thông minh, đã không hiểu về bố.
Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014
Câu trả lời
Đang bắt đầu tập tành theo thần tượng thâm nhập Phật pháp, tuy chưa thể thực hành nhưng đây cũng là một giai đoạn khởi đầu cho sự chuẩn bị. Tối nay vô tình kiếm được câu trả cho trường hợp của Yun luôn, điều này Yun cũng thắc mắc về bản thân mình, không hiểu vì sao mình làm vậy luôn rồi tự hỏi mình có bị hâm không, nay đã có câu trả lời và tâm trạng gần như thoải mái với đáp án nhận được.
"Có những người nữ đến tuổi lấy chồng, nhiều chàng trai làm quen tán tỉnh mà vẫn không ưa, dù cho người xin cưới là người giàu sang, phú quí, có sự nghiệp, danh vọng, địa vị chức tước. Người đời thường cho đó là sự kén chọn, nhưng theo quan điểm tái sinh của Phật giáo, do người này đã từng hứa hẹn với một người nào đó từ kiếp trước mà trong tái sanh họ không gặp lại nhau. Cho nên mẫu người chuẩn để kết hôn mà chưa tìm gặp đã làm nhiều người chọn chủ nghĩa độc thân. Vì thế, họ không thể chấp nhận bất cứ mối tình nào đến với họ.
Có những cặp vợ chồng chênh lệch tuổi tác (không vì lý do tiền bạc) là vì họ đã hứa hẹn với nhau, nhưng việc sanh tử của hai người lại xảy ra lệch thời điểm. Không hiếm gì những người thân thể không thua kém ai, xinh gái, bảnh trai, khôn ngoan, lanh lợi, điều kiện có thừa, thế mà không tìm được một người bạn đời lúc còn son trẻ, đến khi tuổi đã xế chiều mới kết hôn. Bởi trong hứa hẹn, nếu người ra đi tin tưởng hoàn toàn vào người ở lại thì trong kiếp tái sanh đã có sẵn một mẫu người ngự trị trong tâm để tìm. Nếu chưa gặp được mẫu người ấy, họ sẽ chờ và do vậy ở giá".
KHÓ ĐI VÌ TÌNH YÊU
Sự chấp trước trong tình yêu là một trở ngại của tái sinh. Có đôi vợ chồng trẻ rất thương yêu nhau, không may người vợ mắc phải chứng bệnh nan y. Cô biết rằng mạng sống của mình không còn kéo dài bao lâu nữa, nên trăn trối với người chồng: “Anh ơi! Anh là tất cả bầu trời hạnh phúc của em, em yêu anh không gì có thể sánh bằng. Em biết khi chết đi, em khó mà siêu sanh được, vì tình yêu của em dành cho anh vô cùng mãnh liệt, không dễ gì cắt đứt. Anh hãy hứa với em là sau khi em chết, anh vẫn ở vậy nuôi con, không để mắt đến cô nào, và anh giữ trọn lời hứa này cho đến lúc anh từ biệt cõi đời. Ta hẹn gặp nhau ở kiếp sau nha anh!”
Trong thực tế có người có cảm xúc tương tự, nhưng không phải ai cũng may mắn đón nhận tình cảm và lời thề của người ở lại, khi tuổi đời của họ còn quá trẻ, nhựa sống tràn đầy, sức lực tráng kiện. Bởi cuộc sống thế gian cần có sự chung tay, góp sức, cần sự chung chia những ngọt bùi, cay đắng ở đời, cùng với sự đòi hỏi về tâm sinh lý, con người khó có thể giữ được lời hứa theo nguyện vọng của người ra đi. Trước tình cảnh như vậy, tốt nhất người chồng nên vỗ về, an ủi người vợ rằng: “Em hãy an tâm ra đi, anh hứa sẽ một lòng, một dạ chung tình với em. Trong quãng đời còn lại anh sẽ không đem lòng yêu thương ai cả, bởi anh là người rất hạnh phúc, thoả mãn với tất cả những gì em đã dành cho anh.”
Sau khi nghe người chồng nói ra những lời cam kết chung tình, người vợ an tâm nhắm mắt ra đi một cách nhẹ nhàng, không một chút vướng bận.
Thông thường, người trước lúc lâm chung mà khao khát với một yêu cầu nào đó, nhất là tình yêu, mà được cam kết bằng lời hứa sẽ cảm thấy an tâm, ra đi theo nghiệp. Trong kiếp sau, người ấy sẽ có nguyên vọng tìm gặp lại người cũ. Họ chờ đợi nhau cho đến gặp được nhau như người trong mộng.
Có những cặp vợ chồng chênh lệch tuổi tác (không vì lý do tiền bạc) là vì họ đã hứa hẹn với nhau, nhưng việc sanh tử của hai người lại xảy ra lệch thời điểm. Không hiếm gì những người thân thể không thua kém ai, xinh gái, bảnh trai, khôn ngoan, lanh lợi, điều kiện có thừa, thế mà không tìm được một người bạn đời lúc còn son trẻ, đến khi tuổi đã xế chiều mới kết hôn. Bởi trong hứa hẹn, nếu người ra đi tin tưởng hoàn toàn vào người ở lại thì trong kiếp tái sanh đã có sẵn một mẫu người ngự trị trong tâm để tìm. Nếu chưa gặp được mẫu người ấy, họ sẽ chờ và do vậy ở giá.
Có những người nữ đến tuổi lấy chồng, nhiều chàng trai làm quen tán tỉnh mà vẫn không ưa, dù cho người xin cưới là người giàu sang, phú quí, có sự nghiệp, danh vọng, địa vị chức tước. Người đời thường cho đó là sự kén chọn, nhưng theo quan điểm tái sinh của Phật giáo, do người này đã từng hứa hẹn với một người nào đó từ kiếp trước mà trong tái sanh họ không gặp lại nhau. Cho nên mẫu người chuẩn để kết hôn mà chưa tìm gặp đã làm nhiều người chọn chủ nghĩa độc thân. Vì thế, họ không thể chấp nhận bất cứ mối tình nào đến với họ.
Mô hình lý tưởng về người phối ngẫu trong tiềm thức từ quá khứ được mang theo đến tận bây giờ là một trở ngại cho kết hôn. Do vậy, những người khác đến không ăn khớp tiêu chuẩn đã có ấn tượng sâu sắc trong tiềm thức, họ cảm thấy xa lạ, không thiện cảm, không rung động, không an tâm thì làm sao có thể để trở thành đôi uyên ương gắn kết với nhau trong cuộc đời này.
Trở lại câu chuyện trên, sau khi chết, do lòng thương tưởng quá mạnh, người vợ khó có thể dứt bỏ, đi tái sanh mà có thể trở thành oan hồn quanh quẩn bên nhà để được gần gũi chồng con. Cô có thể xuất hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, mục đích là làm cho người chồng hiểu rằng, cô vẫn còn ở bên cạnh anh. Những nơi quen thuộc như nhà bếp, phòng ngủ hay những kỷ vật để lại, hoặc những vật dụng cô sắm cho chồng, cô có khả năng xuất hiện nơi đó.
Sau này, nếu anh chồng đem lòng yêu thương người con gái khác tâm đầu ý hợp, hình ảnh người vợ quá cố sẽ dần phai nhạt trong anh. Có một số trạng huống tâm lý do ấn tượng về người tình cũ nhiều quá, nên khi nhìn thấy ai có điểm nào đó giống người quá cố như ánh mắt, nụ cười, vóc dáng, cá tính hay cách ăn mặc v.v… bỗng dưng anh có thiện cảm và kéo theo tình yêu. Tình yêu ấy không phải phát xuất từ con người hiện hữu mà phát khởi thông qua hình ảnh của người đã mất. Từ sự hoài tưởng về người chồng, người vợ quá cố, nhiều người lầm nhận là tình yêu nên đi đến quyết định kết hôn. Lúc đó nếu hương linh người quá cố thủy chung, biết được người ở lại bội ước, cảm thấy khổ đau.
Có trường hợp, trước ngày tổ chức lễ cưới, người quá cố xuất hiện với thái độ không vui, nói với người bội ước rằng: “Tại sao hứa suốt đời chung thủy với tôi mà bây giờ mình lại kết hôn với người khác?” Có trường hợp linh hồn người mất xuất hiện liên tục, nói lên những lời trách móc làm cho người thất hứa khủng hoảng tinh thần.
Trong thực tế đã có trường hợp xảy ra như vậy. Có lần, có tình trạng một người chồng bội ước, bị hồn ma của vợ về nhát đã đến gặp một vị Hoà thượng. Ngài đã chỉ cho anh như sau: Tối nay, trước lúc ngủ anh chú tâm mơ tưởng đến người vợ quá cố, tự bày tỏ sự hối hận với người vợ rằng, anh đã lỡ thương yêu người kia rất giống hình ảnh của em. Anh cưới cô ấy cũng vì muốn hình ảnh em còn mãi trong trái tim anh. Mong em thông cảm cho anh. Nếu sau khi nghe anh bày tỏ như vậy, mà người vợ quá cố của anh xuất hiện với thái độ đồng ý thì anh khuyên cô ta nên trở về qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng, đừng níu kéo tình cảnh âm dương này nữa. Bởi sự níu kéo làm cho em không thể tái sanh mà phải mang nặng nỗi khổ niềm đau. Anh sẽ thiết lễ, thỉnh Hòa thượng đến cầu siêu giúp em sớm được giải thoát.
Nếu sau khi anh trình bày, người vợ quá cố xuất hiện với thái độ không đồng ý, không tha thứ thì anh cũng yêu cầu cô ấy đáp ứng điều kiện anh đưa ra thì anh sẽ giữ lời hứa lúc ban đầu.
Về nhà, anh làm theo lời chỉ dạy của Hòa Thượng. Đêm đó, anh thấy người vợ quá cố xuất hiện, không đồng ý lại còn cho biết, cô sẽ phá không cho anh hạnh phúc với người vợ mới. Sau đó, anh làm theo cách chỉ dạy thứ hai của Hòa Thượng, anh lấy một tô đậu xanh để trên đầu giường, dùng tay nắm một mớ hạt đậu giơ lên và nói với cô ấy:“Nếu em nói được trong tay anh có bao nhiêu hạt đậu thì anh sẽ chung thủy với em trọn đời.”
Giả sử hồn ma im lặng không trả lời thì biết rằng anh đang rơi vào trạng thái ảo giác chứ không phải thật. Ảo giác có thể xuất hiện như một phản ứng tâm lý mặc cảm tội lỗi rằng mình không thực hiện lời hứa với vợ trước khi chết. Lòng mặc cảm đó làm anh ray rứt lương tâm, khó chịu. Do vậy, mỗi lần hạnh phúc với người tình mới thì nỗi khổ gia tăng, khống chế, lúc đó anh hình dung người vợ quá cố đang quanh quẩn đâu đây.
Thực ra, trong câu chuyện này, khi người chồng hỏi cô vợ quá cố về số hạt đậu trên tay, cô trả lời vanh vách, anh đang cầm trên tay năm mươi bốn hạt đậu. Anh mở bàn tay ra đếm, số hạt đậu trong tay anh đúng năm mươi bốn hạt. Anh giật mình, hoảng sợ, lo lắng trong lòng linh cảm có điều bất an sắp xảy ra.
Hôm sau, anh đến trình bày với Hòa thượng sự việc xảy ra tối qua. Hòa thượng bảo rằng:“Vợ anh chưa được siêu sinh”. Bây giờ, vấn đề này tùy thuộc nơi anh. Nếu anh thật sự còn thương yêu người vợ quá cố, anh có thể làm thêm một phép thử khác hoặc hoãn lại cuộc hôn nhân mới.
Anh thưa:“Con không thể bỏ cô vợ mới được, vì con thật lòng yêu thương cô ấy. Hồn ma của vợ cứ quanh quẩn bên con thì con khủng hoảng mất. Hòa thượng hãy giúp con.”
Hòa thượng dạy, anh giả vờ không thương yêu cô vợ mới trong một tháng. Đêm nào anh cũng đứng trước bàn thờ của vợ với gương mặt buồn bã, khấn nguyện để cho hồn ma cô ấy cảm thấy thoả mãn và hiểu rằng anh rất chung thủy và yêu thương cô. Rồi anh dùng chiêu thức tâm lý nói với cô ấy, cảnh giới cõi âm không phải là cảnh giới sống lâu dài, mà linh hồn cần phải hướng về cảnh giới tái sanh. Em hãy tái sanh làm người mới và chờ đợi anh. Anh cũng sẽ ra đời gặp lại em và mình sẽ chung sống hạnh phúc bên nhau. Nghĩa là làm sao anh chứng minh cho linh hồn cô ấy tin chắc rằng, anh yêu thương cô ấy hết lòng, hết dạ. Lúc đó cô ấy mới đi tái sanh được.
Qua câu chuyện trên, ta thấy sự níu kéo tình cảm yêu thương là một cản lực lớn, làm trở ngại việc tái sanh, khiến cho thần thức tồn tại lâu dài dưới dạng hồn ma. Những nghiệp thức tồn tại dưới dạng hồn ma bóng vía được Phật giáo gọi chung là ngạ quỷ, được kinh điển mô tả: cổ nhỏ bằng cây kim, bụng to như bụng ông địa.
Ngạ quỷ có tỉ lệ nghịch giữa con đường chu cấp thực phẩm vào trong cơ thể vật lý với cái bụng. Cái bụng to thì cần phải chu cấp thực phẩm nhiều mới đáp ứng được nhu cầu của nó, nhưng sự nghịch lý là cái cổ họng lại quá bé, để ăn cho no cái bụng bự ấy là việc hết sức khó khăn. Do đó, nhu cầu ăn uống của ngạ quỷ không được thoả mãn.Vì vậy, thần thức tồn tại dưới dạng hồn ma thì nỗi khổ, niềm đau của cảm giác đói khát gia tăng rất lớn.
Cần phải khôn khéo làm cho người thân ra đi thanh thản, an tâm, không vướng mắc để thần thức không tồn tại dưới dạng hồn ma. Cần hỗ trợ cho người phối ngẫu ra đi nhẹ nhàng bằng cách chung tình với họ trong một thời gian, ít nhất là một năm.
Trong thời gian bốn mươi chín ngày, thần thức có thể vẫn còn quanh quẩn đâu đây, bởi tiếc nuối sự sống thế gian, nhất là đối với tình yêu nam nữ. Trường hợp những đôi vợ chồng còn son trẻ, tha thiết yêu thương mà phải xa nhau do cái chết thì sự tiếc nuối tình yêu diễn ra với cường độ cao gấp hàng chục lần so với sự tiếc nuối tình cảm giữa cha mẹ, con cái. Tình cảm giữa cha mẹ và con cái nó thiên về bổn phận nhiều hơn, còn với tình yêu là sự thu hút giới tính, xúc tác rất mạnh trong tử sinh và luân hồi. Ở đâu có tình yêu, ở đó tiếp tục có sự sống và tái sanh.
Con người và các loài động vật có mặt trên trái đất này là do tình yêu thương và tình dục. Vì vậy, khi vợ chồng xa lìa nhau do cái chết, người đi trước yêu cầu người còn sống thủ tiết trong vòng một năm là vô cùng cần thiết cho thần thức của người ra đi. Nếu không có sức chịu đựng thì ít nhất cũng là bốn mươi chín ngày. Vì mọi hành động của người còn sống, thần thức của người quá cố đều theo dõi, quan sát một thời gian. Đến khi nào cảm thấy người ở lại trung thành, chung thủy, lúc đó họ mới tái sanh.
Một thần thức tồn tại dưới dạng ngạ quỷ quá lâu sẽ xuất hiện chấp thủ. Lúc đầu, thần thức thấy cảnh giới đó là niềm đau, nhưng khi đã tồn tại lâu dài, tạo nên những nghiệp mới, họ chấp nhận những hoàn cảnh khổ đau ấy mà không mong cầu hạnh phúc.
Ta nên đầu tư thật nhiều cho người thân bằng nhiều cách như: tụng niệm, bái sám, phóng sanh, làm phước, hồi hướng công đức làm sao cho họ hiểu rằng, thân thể này không phải là của tôi, tôi không phụ thuộc vào thân thể vật lý này, dòng cảm xúc hạnh phúc và khổ đau này không thuộc về tôi, tôi không bị lệ thuộc vào dòng cảm xúc đó. Đây là phương pháp quán tưởng, tách rời thân thể vật lý khỏi dòng cảm xúc để không còn bám víu vào thân thể nữa. Từ đó dứt bỏ mọi luyến tiếc mà siêu sanh thoát hóa.
Ngược lại, khi thần thức còn bám víu, chấp trước vào hạnh phúc của tình yêu, tình vợ chồng nhưng do không được thỏa mãn, người chết cảm thấy khổ đau và tiến trình tái sanh khó diễn ra. Còn nếu thần thức cố chấp, không tha thứ, không hoan hỷ, không buông xả thì người chết sẽ trở thành hồn ma sân giận đi quậy phá người sống, họ làm cho người sống sợ hãi, khổ đau, khủng hoảng tâm lý.
"Có những người nữ đến tuổi lấy chồng, nhiều chàng trai làm quen tán tỉnh mà vẫn không ưa, dù cho người xin cưới là người giàu sang, phú quí, có sự nghiệp, danh vọng, địa vị chức tước. Người đời thường cho đó là sự kén chọn, nhưng theo quan điểm tái sinh của Phật giáo, do người này đã từng hứa hẹn với một người nào đó từ kiếp trước mà trong tái sanh họ không gặp lại nhau. Cho nên mẫu người chuẩn để kết hôn mà chưa tìm gặp đã làm nhiều người chọn chủ nghĩa độc thân. Vì thế, họ không thể chấp nhận bất cứ mối tình nào đến với họ.
Có những cặp vợ chồng chênh lệch tuổi tác (không vì lý do tiền bạc) là vì họ đã hứa hẹn với nhau, nhưng việc sanh tử của hai người lại xảy ra lệch thời điểm. Không hiếm gì những người thân thể không thua kém ai, xinh gái, bảnh trai, khôn ngoan, lanh lợi, điều kiện có thừa, thế mà không tìm được một người bạn đời lúc còn son trẻ, đến khi tuổi đã xế chiều mới kết hôn. Bởi trong hứa hẹn, nếu người ra đi tin tưởng hoàn toàn vào người ở lại thì trong kiếp tái sanh đã có sẵn một mẫu người ngự trị trong tâm để tìm. Nếu chưa gặp được mẫu người ấy, họ sẽ chờ và do vậy ở giá".
KHÓ ĐI VÌ TÌNH YÊU
Sự chấp trước trong tình yêu là một trở ngại của tái sinh. Có đôi vợ chồng trẻ rất thương yêu nhau, không may người vợ mắc phải chứng bệnh nan y. Cô biết rằng mạng sống của mình không còn kéo dài bao lâu nữa, nên trăn trối với người chồng: “Anh ơi! Anh là tất cả bầu trời hạnh phúc của em, em yêu anh không gì có thể sánh bằng. Em biết khi chết đi, em khó mà siêu sanh được, vì tình yêu của em dành cho anh vô cùng mãnh liệt, không dễ gì cắt đứt. Anh hãy hứa với em là sau khi em chết, anh vẫn ở vậy nuôi con, không để mắt đến cô nào, và anh giữ trọn lời hứa này cho đến lúc anh từ biệt cõi đời. Ta hẹn gặp nhau ở kiếp sau nha anh!”
Trong thực tế có người có cảm xúc tương tự, nhưng không phải ai cũng may mắn đón nhận tình cảm và lời thề của người ở lại, khi tuổi đời của họ còn quá trẻ, nhựa sống tràn đầy, sức lực tráng kiện. Bởi cuộc sống thế gian cần có sự chung tay, góp sức, cần sự chung chia những ngọt bùi, cay đắng ở đời, cùng với sự đòi hỏi về tâm sinh lý, con người khó có thể giữ được lời hứa theo nguyện vọng của người ra đi. Trước tình cảnh như vậy, tốt nhất người chồng nên vỗ về, an ủi người vợ rằng: “Em hãy an tâm ra đi, anh hứa sẽ một lòng, một dạ chung tình với em. Trong quãng đời còn lại anh sẽ không đem lòng yêu thương ai cả, bởi anh là người rất hạnh phúc, thoả mãn với tất cả những gì em đã dành cho anh.”
Sau khi nghe người chồng nói ra những lời cam kết chung tình, người vợ an tâm nhắm mắt ra đi một cách nhẹ nhàng, không một chút vướng bận.
Thông thường, người trước lúc lâm chung mà khao khát với một yêu cầu nào đó, nhất là tình yêu, mà được cam kết bằng lời hứa sẽ cảm thấy an tâm, ra đi theo nghiệp. Trong kiếp sau, người ấy sẽ có nguyên vọng tìm gặp lại người cũ. Họ chờ đợi nhau cho đến gặp được nhau như người trong mộng.
Có những cặp vợ chồng chênh lệch tuổi tác (không vì lý do tiền bạc) là vì họ đã hứa hẹn với nhau, nhưng việc sanh tử của hai người lại xảy ra lệch thời điểm. Không hiếm gì những người thân thể không thua kém ai, xinh gái, bảnh trai, khôn ngoan, lanh lợi, điều kiện có thừa, thế mà không tìm được một người bạn đời lúc còn son trẻ, đến khi tuổi đã xế chiều mới kết hôn. Bởi trong hứa hẹn, nếu người ra đi tin tưởng hoàn toàn vào người ở lại thì trong kiếp tái sanh đã có sẵn một mẫu người ngự trị trong tâm để tìm. Nếu chưa gặp được mẫu người ấy, họ sẽ chờ và do vậy ở giá.
Có những người nữ đến tuổi lấy chồng, nhiều chàng trai làm quen tán tỉnh mà vẫn không ưa, dù cho người xin cưới là người giàu sang, phú quí, có sự nghiệp, danh vọng, địa vị chức tước. Người đời thường cho đó là sự kén chọn, nhưng theo quan điểm tái sinh của Phật giáo, do người này đã từng hứa hẹn với một người nào đó từ kiếp trước mà trong tái sanh họ không gặp lại nhau. Cho nên mẫu người chuẩn để kết hôn mà chưa tìm gặp đã làm nhiều người chọn chủ nghĩa độc thân. Vì thế, họ không thể chấp nhận bất cứ mối tình nào đến với họ.
Mô hình lý tưởng về người phối ngẫu trong tiềm thức từ quá khứ được mang theo đến tận bây giờ là một trở ngại cho kết hôn. Do vậy, những người khác đến không ăn khớp tiêu chuẩn đã có ấn tượng sâu sắc trong tiềm thức, họ cảm thấy xa lạ, không thiện cảm, không rung động, không an tâm thì làm sao có thể để trở thành đôi uyên ương gắn kết với nhau trong cuộc đời này.
Trở lại câu chuyện trên, sau khi chết, do lòng thương tưởng quá mạnh, người vợ khó có thể dứt bỏ, đi tái sanh mà có thể trở thành oan hồn quanh quẩn bên nhà để được gần gũi chồng con. Cô có thể xuất hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, mục đích là làm cho người chồng hiểu rằng, cô vẫn còn ở bên cạnh anh. Những nơi quen thuộc như nhà bếp, phòng ngủ hay những kỷ vật để lại, hoặc những vật dụng cô sắm cho chồng, cô có khả năng xuất hiện nơi đó.
Sau này, nếu anh chồng đem lòng yêu thương người con gái khác tâm đầu ý hợp, hình ảnh người vợ quá cố sẽ dần phai nhạt trong anh. Có một số trạng huống tâm lý do ấn tượng về người tình cũ nhiều quá, nên khi nhìn thấy ai có điểm nào đó giống người quá cố như ánh mắt, nụ cười, vóc dáng, cá tính hay cách ăn mặc v.v… bỗng dưng anh có thiện cảm và kéo theo tình yêu. Tình yêu ấy không phải phát xuất từ con người hiện hữu mà phát khởi thông qua hình ảnh của người đã mất. Từ sự hoài tưởng về người chồng, người vợ quá cố, nhiều người lầm nhận là tình yêu nên đi đến quyết định kết hôn. Lúc đó nếu hương linh người quá cố thủy chung, biết được người ở lại bội ước, cảm thấy khổ đau.
Có trường hợp, trước ngày tổ chức lễ cưới, người quá cố xuất hiện với thái độ không vui, nói với người bội ước rằng: “Tại sao hứa suốt đời chung thủy với tôi mà bây giờ mình lại kết hôn với người khác?” Có trường hợp linh hồn người mất xuất hiện liên tục, nói lên những lời trách móc làm cho người thất hứa khủng hoảng tinh thần.
Trong thực tế đã có trường hợp xảy ra như vậy. Có lần, có tình trạng một người chồng bội ước, bị hồn ma của vợ về nhát đã đến gặp một vị Hoà thượng. Ngài đã chỉ cho anh như sau: Tối nay, trước lúc ngủ anh chú tâm mơ tưởng đến người vợ quá cố, tự bày tỏ sự hối hận với người vợ rằng, anh đã lỡ thương yêu người kia rất giống hình ảnh của em. Anh cưới cô ấy cũng vì muốn hình ảnh em còn mãi trong trái tim anh. Mong em thông cảm cho anh. Nếu sau khi nghe anh bày tỏ như vậy, mà người vợ quá cố của anh xuất hiện với thái độ đồng ý thì anh khuyên cô ta nên trở về qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng, đừng níu kéo tình cảnh âm dương này nữa. Bởi sự níu kéo làm cho em không thể tái sanh mà phải mang nặng nỗi khổ niềm đau. Anh sẽ thiết lễ, thỉnh Hòa thượng đến cầu siêu giúp em sớm được giải thoát.
Nếu sau khi anh trình bày, người vợ quá cố xuất hiện với thái độ không đồng ý, không tha thứ thì anh cũng yêu cầu cô ấy đáp ứng điều kiện anh đưa ra thì anh sẽ giữ lời hứa lúc ban đầu.
Về nhà, anh làm theo lời chỉ dạy của Hòa Thượng. Đêm đó, anh thấy người vợ quá cố xuất hiện, không đồng ý lại còn cho biết, cô sẽ phá không cho anh hạnh phúc với người vợ mới. Sau đó, anh làm theo cách chỉ dạy thứ hai của Hòa Thượng, anh lấy một tô đậu xanh để trên đầu giường, dùng tay nắm một mớ hạt đậu giơ lên và nói với cô ấy:“Nếu em nói được trong tay anh có bao nhiêu hạt đậu thì anh sẽ chung thủy với em trọn đời.”
Giả sử hồn ma im lặng không trả lời thì biết rằng anh đang rơi vào trạng thái ảo giác chứ không phải thật. Ảo giác có thể xuất hiện như một phản ứng tâm lý mặc cảm tội lỗi rằng mình không thực hiện lời hứa với vợ trước khi chết. Lòng mặc cảm đó làm anh ray rứt lương tâm, khó chịu. Do vậy, mỗi lần hạnh phúc với người tình mới thì nỗi khổ gia tăng, khống chế, lúc đó anh hình dung người vợ quá cố đang quanh quẩn đâu đây.
Thực ra, trong câu chuyện này, khi người chồng hỏi cô vợ quá cố về số hạt đậu trên tay, cô trả lời vanh vách, anh đang cầm trên tay năm mươi bốn hạt đậu. Anh mở bàn tay ra đếm, số hạt đậu trong tay anh đúng năm mươi bốn hạt. Anh giật mình, hoảng sợ, lo lắng trong lòng linh cảm có điều bất an sắp xảy ra.
Hôm sau, anh đến trình bày với Hòa thượng sự việc xảy ra tối qua. Hòa thượng bảo rằng:“Vợ anh chưa được siêu sinh”. Bây giờ, vấn đề này tùy thuộc nơi anh. Nếu anh thật sự còn thương yêu người vợ quá cố, anh có thể làm thêm một phép thử khác hoặc hoãn lại cuộc hôn nhân mới.
Anh thưa:“Con không thể bỏ cô vợ mới được, vì con thật lòng yêu thương cô ấy. Hồn ma của vợ cứ quanh quẩn bên con thì con khủng hoảng mất. Hòa thượng hãy giúp con.”
Hòa thượng dạy, anh giả vờ không thương yêu cô vợ mới trong một tháng. Đêm nào anh cũng đứng trước bàn thờ của vợ với gương mặt buồn bã, khấn nguyện để cho hồn ma cô ấy cảm thấy thoả mãn và hiểu rằng anh rất chung thủy và yêu thương cô. Rồi anh dùng chiêu thức tâm lý nói với cô ấy, cảnh giới cõi âm không phải là cảnh giới sống lâu dài, mà linh hồn cần phải hướng về cảnh giới tái sanh. Em hãy tái sanh làm người mới và chờ đợi anh. Anh cũng sẽ ra đời gặp lại em và mình sẽ chung sống hạnh phúc bên nhau. Nghĩa là làm sao anh chứng minh cho linh hồn cô ấy tin chắc rằng, anh yêu thương cô ấy hết lòng, hết dạ. Lúc đó cô ấy mới đi tái sanh được.
Qua câu chuyện trên, ta thấy sự níu kéo tình cảm yêu thương là một cản lực lớn, làm trở ngại việc tái sanh, khiến cho thần thức tồn tại lâu dài dưới dạng hồn ma. Những nghiệp thức tồn tại dưới dạng hồn ma bóng vía được Phật giáo gọi chung là ngạ quỷ, được kinh điển mô tả: cổ nhỏ bằng cây kim, bụng to như bụng ông địa.
Ngạ quỷ có tỉ lệ nghịch giữa con đường chu cấp thực phẩm vào trong cơ thể vật lý với cái bụng. Cái bụng to thì cần phải chu cấp thực phẩm nhiều mới đáp ứng được nhu cầu của nó, nhưng sự nghịch lý là cái cổ họng lại quá bé, để ăn cho no cái bụng bự ấy là việc hết sức khó khăn. Do đó, nhu cầu ăn uống của ngạ quỷ không được thoả mãn.Vì vậy, thần thức tồn tại dưới dạng hồn ma thì nỗi khổ, niềm đau của cảm giác đói khát gia tăng rất lớn.
Cần phải khôn khéo làm cho người thân ra đi thanh thản, an tâm, không vướng mắc để thần thức không tồn tại dưới dạng hồn ma. Cần hỗ trợ cho người phối ngẫu ra đi nhẹ nhàng bằng cách chung tình với họ trong một thời gian, ít nhất là một năm.
Trong thời gian bốn mươi chín ngày, thần thức có thể vẫn còn quanh quẩn đâu đây, bởi tiếc nuối sự sống thế gian, nhất là đối với tình yêu nam nữ. Trường hợp những đôi vợ chồng còn son trẻ, tha thiết yêu thương mà phải xa nhau do cái chết thì sự tiếc nuối tình yêu diễn ra với cường độ cao gấp hàng chục lần so với sự tiếc nuối tình cảm giữa cha mẹ, con cái. Tình cảm giữa cha mẹ và con cái nó thiên về bổn phận nhiều hơn, còn với tình yêu là sự thu hút giới tính, xúc tác rất mạnh trong tử sinh và luân hồi. Ở đâu có tình yêu, ở đó tiếp tục có sự sống và tái sanh.
Con người và các loài động vật có mặt trên trái đất này là do tình yêu thương và tình dục. Vì vậy, khi vợ chồng xa lìa nhau do cái chết, người đi trước yêu cầu người còn sống thủ tiết trong vòng một năm là vô cùng cần thiết cho thần thức của người ra đi. Nếu không có sức chịu đựng thì ít nhất cũng là bốn mươi chín ngày. Vì mọi hành động của người còn sống, thần thức của người quá cố đều theo dõi, quan sát một thời gian. Đến khi nào cảm thấy người ở lại trung thành, chung thủy, lúc đó họ mới tái sanh.
Một thần thức tồn tại dưới dạng ngạ quỷ quá lâu sẽ xuất hiện chấp thủ. Lúc đầu, thần thức thấy cảnh giới đó là niềm đau, nhưng khi đã tồn tại lâu dài, tạo nên những nghiệp mới, họ chấp nhận những hoàn cảnh khổ đau ấy mà không mong cầu hạnh phúc.
Ta nên đầu tư thật nhiều cho người thân bằng nhiều cách như: tụng niệm, bái sám, phóng sanh, làm phước, hồi hướng công đức làm sao cho họ hiểu rằng, thân thể này không phải là của tôi, tôi không phụ thuộc vào thân thể vật lý này, dòng cảm xúc hạnh phúc và khổ đau này không thuộc về tôi, tôi không bị lệ thuộc vào dòng cảm xúc đó. Đây là phương pháp quán tưởng, tách rời thân thể vật lý khỏi dòng cảm xúc để không còn bám víu vào thân thể nữa. Từ đó dứt bỏ mọi luyến tiếc mà siêu sanh thoát hóa.
Ngược lại, khi thần thức còn bám víu, chấp trước vào hạnh phúc của tình yêu, tình vợ chồng nhưng do không được thỏa mãn, người chết cảm thấy khổ đau và tiến trình tái sanh khó diễn ra. Còn nếu thần thức cố chấp, không tha thứ, không hoan hỷ, không buông xả thì người chết sẽ trở thành hồn ma sân giận đi quậy phá người sống, họ làm cho người sống sợ hãi, khổ đau, khủng hoảng tâm lý.
(Trích từ nguồn : http://www.daophatngaynay.com/vn/tu-sach-dao-phat-ngay-nay/6194-Chuong-4-Kinh-nghiem-truoc-cai-chet.html )
Cõi Tiên, Trời và A-tu-la
CÕI TIÊN
Thường các kinh nguyên thủy (thời kỳ đầu) thì nói có sáu
đạo, nhưng các kinh đại thừa thì thêm một đạo nữa là cõi tiên. Như vậy, chúng
ta có bảy cõi là cõi trời, tiên, a-tu-la, người, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Phần trước đã nói về địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh, chương
này sẽ nói đến ba cõi là cõi tiên, cõi trời và a-tu-la.
Tiên là những chúng sinh trên loài người, nhưng không nương
theo giới định tuệ, không biết tam-ma-đề, lại riêng tu theo vọng niệm, để tâm củng
cố hình hài, vào trong rừng núi, những chỗ người ta không đến được, thành mười
thứ tiên. Mười thứ tiên như sau:
“A Nan, các chúng sinh kia,
kiên cố dùng đồ bổ mà không dừng nghỉ, khi đạo ăn được thành tựu, thì gọi là
Địa hành tiên.
Kiên cố dùng cỏ cây mà không dừng nghỉ, khi đạo thuốc được
thành tựu, thì gọi là Phi hành tiên.
Kiên cố dùng kim thạch mà không dừng nghỉ, khi đạo hóa chất
được thành tựu, thì gọi là Du hành tiên.
Kiên cố làm những động tác mà không dừng nghỉ, khi khí tinh
được thành tựu, thì gọi là Không hành tiên.
Kiên cố luyện nước bọt mà không dừng nghỉ, khi nhuận đức
được thành tựu, thì gọi là Thiên hành tiên.
Kiên cố hấp thụ tinh hoa mà không dừng nghỉ, khi hấp thụ
được thành tựu, thì gọi là Thông hành tiên.
Kiên cố làm thuật phù chú mà không dừng nghỉ, khi thuật pháp
được thành tựu, thì gọi là Đạo hành tiên.
Kiên cố chuyên chú tâm niệm mà không dừng nghỉ, khi chuyên
niệm được thành tựu, thì gọi là Chiếu hành tiên.
Kiên cố về thủy hỏa giao cấu mà không dừng nghỉ, khi cảm ứng
được thành tựu, thì gọi là Tinh hành tiên.
Kiên cố tập luyện biến hóa mà không dừng nghỉ, khi giác ngộ
được thành tựu, thì gọi là Tuyệt hành tiên”.
“A Nan, các vị ấy đều ở trong loài người mà luyện tâm, tuy không
tu chính giác, nhưng riêng được lẽ sống, thọ ngàn vạn tuổi, nghỉ ở trong núi
sâu hoặc trên đảo giữa bể cả, cách tuyệt chỗ người ở; đó cũng là vọng tưởng
luân hồi lưu chuyển. Nếu không tu phép Tam muội, thì khi quả báo hết rồi, trở
lại tản vào trong lục đạo”[1].
Tiên là những người bỏ chốn thế gian ồn náo, vinh hoa phú
quý, danh lợi thị phi, ẩn mình trong hang, trong núi, hải đảo, nơi mà loài
người không đến được để tu theo những pháp củng cố hình hài, trường thọ sống lâu,
chớ không tu tập theo giới định tuệ.
Do tu nhân riêng biệt thành quả hư vọng, do tu luyện pháp
trường sanh nên tiên cũng có thần thông, khinh an, sống thọ, nhưng dù có thọ
đến đâu thì tiên vẫn còn bị chi phối bởi luật sanh tử và cũng có ngày thân này
phải tan mà đọa lạc.
1. Địa hành tiên: đồ bổ của những người tu tiên, chỉ có họ
mới biết với nhau, mình mà dùng nhiều đồ bổ thì nó thành độc, phải có những món
thuốc đặc biệt. Một số vị kiên cố dùng đồ bổ, chuyên dùng những loại chất bổ
không dừng nghỉ. Khi chất bổ này thành tựu thì vị tiên đó đi trên mặt đất rất
nhẹ nhàng vậy.
2. Phi hành tiên: vị này nếm theo vị của từng loại cỏ cây,
biết loại nào trị bịnh nào, loại dược thảo nào dùng vào khiến cơ thể khoẻ mạnh,
khoan khoái, bình an. Như các ông lang thầy thuốc, cắt, phơi khô hay sao cây cỏ
lên, rồi nghiền nát thành bột, bào chế dùng để trị bịnh. Cũng thế do chuyên dùng
cỏ cây, các loại thuốc dược thảo nên cơ thể các vị tiên rất khoan khoái an ổn.
Và tiên luyện như vậy liên tục, không dừng nghỉ. Khi thuốc này thành tựu thì
tiên phi hành như bay, đi như bay.
3. Du hành tiên: trong đá có nhiều
loại ngọc, vàng, kim khí, đá ngọc rồi tiên mài, nấu, ngâm, bào chế các chất này
thế nào đó để họ dùng được. Kiên cố bền tâm lâu dài dùng các loài bào chế này
không dừng nghỉ. Khi công phu thành tựu thì vị này sẽ đi nhanh như chạy, để
thấy cái khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cứng cáp của cơ thể.
Ở đỉnh núi Thị vải, Bà-rịa, Vũng Tàu, có một người sống ở
đấy. Chỗ ở của ông chỉ là một cái lều, nằm ngủ ở trên một cái chõng và trồng
mấy cây bắp rau để ăn. Ông làm nghề đi gánh thuê buôn bán dưới chân núi. Thế cho
nên buổi sáng ông phải từ đỉnh núi đi xuống chợ gánh thuê để lấy tiền sinh
sống. Đến chiều xong việc rồi lại lên núi tiếp.
Từ chân núi đến đỉnh núi là chúng ta phải trèo hì hục mất cả
ngày, nhưng chân ông bước nhanh như chạy thoăn thoắt như thỏ mà không bám vào đâu
cả, thoáng một cái ông đã đến đỉnh núi rồi. Chắc là kiếp trước ông có tu tiên,
được quả du hành tiên này nên kiếp này thật lạ lùng là lên đỉnh núi mà ở một
mình yên tĩnh và đi nhanh như chạy.
4. Không hành tiên: kiên cố bền chí hoạt động, tập thể dục
có phương pháp, những động tác có bài bản. Tập như thế không ngừng, như đây đã
nói hai chữ kiên cố, thì mới hy vọng thành công, chứ không phải là dễ được. Khi
phương pháp tập khiến cho cơ thể nhẹ mạnh này được thành tựu, vị tiên này đi
được ở trong hư không, đi như thoảng qua gió mà mình không hay.
5.Thiên hành tiên: kiên cố luyện nước bọt không dừng nghỉ.
Nước bọt rất bổ và chuyên dùng luyện. Khi nhuận đức này thành tựu thì vị này
gọi là Thiên hành tiên.
6. Thông hành tiên: kiên cố hấp thụ tinh hoa không dừng
nghỉ. Buổi sáng, trưa, chiều, tiên hướng về mặt trời nhìn đăm đăm vào mặt trời
để thâu cái tinh khí của mặt trời. Khi luyện thành tựu thì vị này gọi là Thông
hành tiên.
7. Đạo hành tiên: kiên cố luyện những loại phép thuật phù
chú bay loạn không dừng nghỉ. Khi thuật pháp được thành tựu thì gọi là Đạo hành
tiên.
8. Chiếu hành tiên: kiên cố chuyên chú tâm niệm không dừng
nghỉ. Các vị này cũng có phép thuật của họ, chuyên một câu nào đó khi thành tựu
thì thành Chiếu hành tiên có ánh sáng chiếu quanh tiên.
9.Tinh hành tiên: thủy hỏa giao cấu giao nhau không dừng
nghỉ. Khi cảm ứng được thành tựu thì gọi là Tinh hành tiên.
10. Tuyệt hành tiên: kiên cố tập luyện biến hoá không dừng
nghỉ. Khi thành công mà đây tiên gọi là giác ngộ thì thành Tuyệt hành tiên.
Như vậy, tiên cũng có từng danh hiệu riêng nhau. Tu tiên
nhưng mỗi người tu mỗi cách, ở đây Phật nói cho chúng ta biết là có mười loại
tiên.
Mỗi vị tiên, Đức Phật đều nhắc lại hai chữ kiên cố tức phải
có công phu tinh tấn không dừng nghỉ. Những việc tu luyện này phải bền tâm lâu dài
và mắc công, chứ không qua loa cho xong mà được đâu. Kiên cố và có tâm luyện
tập, tiên phải hơn mình vì có tinh thần, sức khoẻ và sống thọ, nhưng cũng không
phải là tiên không chết. Hết phước, hết thọ rồi thì tiên cũng đọa, nên Đức Phật
cũng khuyên chúng ta không nên nguyện tu theo những hạnh này, vì còn lẩn
quẩn trong tam giới.
CÕI TRỜI DỤC GIỚI (còn dục)
A Nan, các người thế gian, không cầu đạo thường trụ, chưa có
thể rời bỏ được sự ân ái với vợ mình, nhưng tâm không buông lung trong việc tà
dâm, do tâm đứng lặng sinh ra sáng suốt, sau khi mệnh chung ở gần với mặt trời,
mặt trăng; một loài như thế, gọi là Tứ Thiên Vương Thiên.
Đối với vợ mình, dâm ái ít ỏi, trong lúc tịnh cư, không được
toàn vị, thì sau khi mệnh chung, vượt ánh sáng mặt trời, mặt trăng, ở trên chóp
nhân gian; một loài như thế, gọi là Đao Lợi Thiên.
Gặp cảnh dục tạm theo, bỏ đi không nhớ nghĩ, ở trong nhân gian,
động ít, tĩnh nhiểu, thì sau khi mệnh chung, sáng rỡ ở yên trong cõi hư không,
ánh sáng mặt trời, mặt trăng không soi đến được; và những người ấy tự mình có
ánh sáng; một loài như thế, gọi là Tu Diệm Ma Thiên.
Lúc nào cũng tĩnh, nhưng khi có cảm xúc đến bên mình, chưa chống
đối được, thì sau khi mệnh chung, lên trên chỗ tinh vi, không tiếp với những
cảnh nhân thiên cõi dưới, cho đến gặp hoại kiếp, tam tai cũng không đến nơi;
một loài như thế, gọi là Đâu Suất Đà Thiên.
Chính mình không có tâm dâm dục, chỉ đáp ứng với người khác mà
làm, trong lúc phô bày, vô vị như ăn sáp, thì sau khi mệnh chung, vượt lên sinh
vào cảnh biến hóa; một loài như thế, gọi là Lạc Biến Hóa Thiên.
Không có tâm thế gian, chỉ đồng với thế gian mà làm việc ngũ
dục; trong lúc làm việc ấy, rõ ràng là siêu thoát, thì sau khi mệnh chung, vượt
trên tất cả những cảnh biến hóa và không biến hóa; một loài như thế, gọi là Tha
Hóa Tự Tại Thiên.
A Nan, sáu cõi trời như
thế, hình thức tuy khỏi động, nhưng tâm tính còn dính dấp; từ các cõi ấy trở
xuống, gọi là Dục Giới[2].
Dục giới là những vị này chưa rời bỏ được ân ái, dục nhiễm.
Họ tu thập thiện, thiền định, bố thí nhưng vẫn còn dục nhiễm. Tùy theo lòng dục
giảm nhẹ đến đâu thì ở trên cõi trời cao đến nấy. Các vị trời dục giới thân
hình tuy không động nhưng tâm còn dấu vết.
Từ cõi trời dục giới thứ sáu trở xuống là từ cõi Tha hoá tự
tại thiên trở xuống vẫn còn bị tam tai tức cõi dục giới còn tam tai. Tam tai:
có lửa (vì có dục nên còn lửa), gió (thổi tan xác đi), bão lụt (nước nhận
chìm).
Cõi dục giới thứ sáu là cõi trời Tha hoá tự tại thiên: chỉ
đồng thế gian mà làm việc ngũ dục. Như chúng ta không thiết ăn nhưng đến bữa
cơm vẫn vào ngồi ăn mà không có cảm giác gì. Tuy là đáp ứng vợ chồng nhưng dục
cảm vô vị tức tâm vị trời này không thiết tha nữa, nên siêu thoát.
Từ trạng thái chán dục này mới bước lên cõi trời sắc giới là
không còn dục nữa.
Đức Phật khi sắp thành Phật rồi mà ngài ở cõi trời Dục giới
là một cõi rất thấp trong các cõi trời. Voi trắng sáu ngà từ cung trời Đâu Suất
thiên (cõi thứ tư của dục giới) giáng trần. Thật ra đây là Đức Phật hiện thân ở
cõi trời Đâu Suất chứ không phải bị nghiệp lực và đọa ở cảnh ấy. Vì nguyện lực,
bồ tát mới hiện thân ở cõi ấy. Tương lai Đức Phật Di Lặc cũng từ Đâu Suất xuống
ta bà.
Các đức Phật vì nguyện lực giáng sanh xuống trần, khi tái
sanh đều giáng sanh vào dòng thắng lưu có phước đức tức là dòng thù thắng, tức
là cõi trời hoặc ngài sanh vào dòng quý phái Thích Ca vua chúa sát-đế-lợi là
giới quan quyền thượng lưu trong xã hội, còn nghèo hèn tầm thường gọi là hạ lưu.
Tu nhân gì để về cõi Đâu suất? Phải có thiền định, phải có
thập thiện, tâm dục nhẹ.
Đâu Suất nội viện khác với Đâu suất là thế nào?
Đối với những tầng trời sắc và vô sắc, những cõi trên, thì
Đâu Suất hãy còn nặng nghiệp lắm.
Nội viện Đâu suất là những vị có duyên với Đức Phật Di Lặc.
Viện là chỗ an trú viện của Đức Phật Di Lặc. Người nào có duyên, có nguyện chịu
sự giáo hoá của Đức Phật Di Lặc thì chọn cõi Đâu suất nguyện về vì có Đức Phật
Di Lặc giảng pháp. Đức Phật Thích Ca cũng ở đấy để giảng pháp. Giảng Thắng Pháp
tập yếu luận cho mẫu hậu Ma-ya trong bảy ngày.
CÕI TRỜI SẮC GIỚI (ly dục)
A Nan, tất cả những người
tu tâm trong thế gian, không nhờ Thiền na, thì không có trí tuệ.
Người nào giữ được cái thân không làm việc dâm dục, trong
lúc đi, lúc ngồi, đều không nghĩ nhớ, lòng ái nhiễm không sinh, không còn
ở trong Dục Giới, thì bản thân liền được làm phạm lữ; một loài như thế, gọi là
Phạm Chúng Thiên.
Tập quán ngũ dục đã trừ rồi, tâm ly dục hiện ra, vui vẻ
thuận theo các luật nghi, thì người đó liền có thể thực hành những phạm đức; một
loài như thế gọi là Phạm Phụ Thiên.
Thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, uy nghi không thiếu, cấm giới
trong sạch, lại có thêm trí sáng, thì người đó liền được thống lĩnh phạm chúng,
làm Đại Phạm Vương; một loài như thế gọi là Đại Phạm Vương.
A Nan, ba loài tốt đó, tất cả khổ não không bức bách được; tuy
không phải chân chính tu phép Tam ma đề của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh
tịnh, những lầm lạc của Dục Giới không lay động được, nên gọi là Sơ Thiền.
A Nan, thứ nữa, các hàng Phạm Thiên khi thống lĩnh phạm chúng,
lại tu tập phạm hạnh được viên mãn, làm cho tâm đứng lặng không lay động, và do
sự đứng lặng ấy, sinh ra sáng suốt; một loài như thế gọi là Thiểu Quang Thiên.
Hào quang sáng suốt thêm nhiều, chói sáng không cùng, ánh
vào thập phương thế giới đều thành trong sáng như ngọc lưu ly; một loài như thế,
gọi là Vô Lượng Quang Thiên.
Nắm giữ hào quang viên mãn, tạo thành giáo thể, phát ra sự giáo
hóa thanh tịnh, ứng dụng không cùng; một loài như thế, gọi là Quang Âm Thiên.
A Nan, ba loài tốt ấy, tất
cả lo buồn không bức bách được; tuy không phải chân chính tu hành phép Tam ma
đề của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc thô động đã dẹp
xuống, nên gọi là Nhị thiền.
A Nan, những loài trời như thế, khi dùng hào quang viên mãn làm
việc giáo hóa, do sự giáo hóa càng rõ lẽ nhiệm mầu, phát ra hạnh tinh tiến,
thông với cái vui yên lặng; một loài như thế gọi là Thiểu Tịnh Thiên.
Cảnh thanh tịnh hiện tiền, dẫn phát không có bờ bến, thân
tâm được khinh an, thành cái vui yên lặng; một loài như thế gọi là Vô Lượng Tịnh
Thiên.
Thế giới và thân tâm, tất cả hoàn toàn thanh tịnh, đức thanh
tịnh được thành tựu, cảnh giới thù thắng hiện tiền, dồn về vui yên lặng; một
loài như thế gọi là Biến Tịnh Thiên.
A Nan, ba loài tốt đó, đầy đủ công hạnh đại tùy thuận, thân tâm
yên lặng, được cái vui vô lượng; tuy không phải chân chính được phép Tam ma đề
của đạo Phật, nhưng trong tâm yên ổn, hoan hỷ được đầy đủ, nên gọi là Tam Thiền.
A Nan, lại nữa, những loài trời đó, thân tâm không bị bức bách,
nguyên nhân của khổ đã hết, lại xét cái vui không phải thường trụ, lâu rồi cũng
phải tiêu tan, nên cả hai tâm khổ và vui, đồng thời đều phóng xả; những tướng
thô nặng đã diệt, thì phúc thanh tịnh sinh ra; một loài như thế, gọi là Phúc
Sinh Thiên.
Tâm phóng xả được viên mãn, sự nhận hiểu cao xa càng thanh tịnh;
trong cái phúc không gì trở ngại đó, được sự tùy thuận nhiệm mầu cùng tột vị
lai; một loài như vậy, gọi là Phúc Ái Thiên.
A Nan, từ cõi trời đó, có
hai đường trẽ : Nếu dùng cái tâm sáng suốt thanh tịnh vô lượng trước kia, mà tu
chứng an trụ nơi phúc đức viên mãn sáng suốt, thì một loài như thế, gọi là Quảng
Quả Thiên.
Nếu nơi cái tâm trước kia nhàm chán cả cái khổ và cái vui, lại
nghiền ngẫm cái tâm phóng xả, tiếp tục không ngừng, đi đến cùng tột sự phóng
xả, thân tâm đều diệt hết, ý nghĩ bặt mất, trải qua năm trăm kiếp, người ấy đã
lấy cái sinh diệt làm nhân, thì không thế phát minh tính không sinh diệt, nên
nửa kiếp đầu thì diệt, nửa kiếp sau lại sinh; một loài như thế gọi là Vô Tưởng
Thiên.
A Nan, bốn loài tướng tốt
ấy, tất cả những cảnh khổ, vui trong thế gian không lay động được; tuy không
phải là chỗ bất động chân thật của đạo vô vi; song, nơi cái tâm hữu sở đắc,
công dụng đã thuần thục, nên gọi là Tứ Thiền.
A Nan, trong đó, lại có năm bậc Bất Hoàn Thiên, các vị này
đã diệt hết tập khí chín phẩm tư hoặc trong cõi dưới rồi, khổ, vui không còn,
bên dưới không có chỗ ở, nên an lập chỗ ở nơi chúng đồng phận của tâm phóng xả.
A Nan, khổ, vui cả hai đều
diệt, không còn tâm niệm ưa ghét; một loài như thế, gọi là Vô Phiền Thiên.
Tự tại phóng xả, không còn năng xả, sở xả; một loài như thế,
gọi là Vô Nhiệt Thiên.
Khéo thấy thế giới mười phương thảy đều đứng lặng, không còn
tất cả những cấu nhiễm trầm trọng của trần cảnh; một loài như thế, gọi là Thiện
Kiến Thiên.
Tri kiến thanh tịnh hiện tiền, sử dụng được không ngăn ngại;
một loài như thế, gọi là Thiện Hiện Thiên.
Quán sát rốt ráo các cực vi, cùng tột tính của sắc pháp, vào
tính không bờ bến; một loài như thế, gọi là Sắc Cứu Kính Thiên.
A Nan, những bậc Bất Hoàn Thiên đó, chỉ riêng bốn vị Thiên Vương
Tứ Thiền được có kính nghe, nhưng không thể thấy biết; cũng như hiện nay, có
các thánh đạo trường nơi rừng sâu đồng rộng thế gian, đều là những nơi trụ trì
của các vị A La Hán, nhưng những người thô thiển thế gian không thể thấy được.
A Nan, mười tám loài trời đó, tâm thường ở trong định, không
dính dáng với trần cảnh, song chưa hết cái lụy của hình hài; từ đó trở về, gọi
là Sắc Giới[3].
Chúng ta có thể hiểu các cõi trời sắc giới như sau:
Sơ thiền: Phạm chúng thiên, Phạm Phụ Thiên. Đại Phạm Thiên.
Nhị thiền: Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang thiên, Quang Âm
Thiên.
Tam thiền: Thiểu Tịnh thiên, Vô Lượng Tịnh thiên, Biến Tịnh
thiên.
Tứ thiền: Phước Sanh Thiên, Phước Ái thiên, Quảng Quả thiên
và Vô Tưởng thiên.
Ngũ Tịnh Cư Thiên: Vô Phiền Thiên,
Vô Nhiệt thiên, Thiện Kiến thiên, Thiện Hiện thiên, Sắc Cứu Cánh thiên.
Cõi sơ thiền tuy không phải chánh định, nhưng không có
nhiễm, không có những lỗi lầm như của dục giới nên thoát được các khổ não. Các
vị này đã thoát những dục tâm, ngũ dục (sắc thanh hương vị xúc) tuy nhiên họ vẫn
còn cái lụy hình hài, nên gọi cõi sắc.
Như vậy, vừa lên đến sơ thiền là bắt đầu hết lòng dục.
Lên nhị thiền thì thoát ly được các ưu thụ, trong tâm thanh
tịnh. Tất cả tuy không tu chánh định nhưng đã uốn dẹp được các thô lậu tức lầm lạc
thô thiển.
Rồi lên đến cõi tam thiền thì rời bỏ được cái hỷ thọ ở nhị
thiền, được cái vui khinh an vô lượng, nên thân tâm cho đến cảnh giới thảy đều thanh
tịnh. Trong Phật giáo hay ví vui như vui ở cõi tam thiền.
Cõi tứ thiền đã thoát ly được các cảnh khổ, vui thế gian,
nên tuy không phải là chánh định, nhưng trong tâm đã có chỗ sở đắc, công phu cũng
đã bắt đầu thuần thục và phước báo cũng cao.
Các vị này tham, sân, si không hiện lên được, nếu loại bỏ
được thì chứng A-la-hán, có định lực hàng phục được, nhưng còn ở trong đường
luân hồi vì vẫn còn trụ pháp, trụ sắc thân.
CÕI TRỜI VÔ SẮC GIỚI (ly sắc thân)
Lại nữa, A Nan, từ chỗ cao nhất của Sắc giới, lại có hai đường
trẽ. Nếu nơi tâm phóng xả, phát minh được trí tuệ, trí tuệ sáng suốt viên
thông, thì ra khỏi cõi trần, thành vị A La Hán, vào Bồ Tát thừa; một loài như
thế, gọi là Hồi Tâm Đại A La Hán.
Nếu nơi tâm phóng xả, khi thành tựu được sự phóng xả rồi,
lại cảm thấy cái thân làm ngăn ngại và tiêu cái ngăn ngại ấy vào hư không, thì
một loài như thế gọi là Không xứ.
Các chất ngại đã tiêu trừ rồi, nhưng không diệt được cái vô ngại,
trong đó chỉ còn thức A lại da và còn nguyên vẹn phần nửa vi tế của thức Mạt
na; một loài như thế, gọi là Thức xứ.
Sắc và không đã hiết, cái tâm biết là hết ấy cũng diệt trừ, mười
phương vẳng lặng, không còn gì nữa; một loài như thế, gọi là Vô sở hữu xứ.
Thức tính vốn không lay động, lại dùng cái diệt mà diệt đến cùng;
trong chỗ không thể hết, phát minh nhận cho là hết, nên hình như còn, mà không
phải còn, hình như hết, mà không phải hết; một loài như thế, gọi là Phi tưởng
phi phi tưởng xứ.
Bọn này xét cùng cái không, nhưng không tột lý không; nếu từ
thánh đạo cõi trời Bất Hoàn mà xét cùng, thì một loài như thế, gọi là Bất Hồi
Tâm Độn A La Hán. Nếu từ cõi trời Vô Tưởng và ngoại đạo mà xét cùng cái không,
không biết trở về, mê lầm không nghe chính pháp, thì sẽ vào trong luân hồi.
A Nan, trên các cõi trời
đó, mỗi mỗi đều là những phàm phu hưởng sự báo đáp của nghiệp quả và khi sự báo
đáp ấy hết rồi, thì trở vào trong luân hồi. Thiên vương các cõi kia, thường là
Bồ Tát, dùng Tam ma đề mà lần lượt tiến lên, hồi hướng về đường tu hành đạo
Phật.
A Nan, những cõi trời Tứ Không đó, thân tâm diệt hết, định tính
hiện tiền, không có sắc pháp của nghiệp quả; từ đó đến cuối cùng, gọi là Vô Sắc
Giới.
Bọn đó, đều do không rõ Diệu giác minh tâm, chứa nhóm cái vọng,
mà giả dối phát sinh ra ba cõi, giả dối theo bảy loài trong đó, mà chìm đắm và
cá thể thụ sinh cũng theo từng loài[4].
Các vị này chẳng những thọ mà đến tưởng cũng không, nhưng
còn ở trong hành ấm. Coi như lạc ở Vô sắc rồi thì không còn trần tướng, hôn
trầm, ngũ trược, căn cảnh đối nhau.
Dục giới: còn dục và còn sắc,
Sắc giới: hết dục nhưng còn sắc,
Vô sắc giới: không dục và không sắc và những cõi này xa xôi
lắm, không biết gì. Ở trong định lực thấy không, thấy huyễn, nhưng không nắm được
lý không để nhận được tánh chân không, thành ra trụ vào cái không không đó, khi
hết định lực thì đọa xuống nên vẫn còn luân hồi.
Các vị này vẫn còn thức mạt na vi tế và chưa biết rõ đường
đi tam-ma-đề. Các ngài ở cõi vô sắc giới xả được phần thô mà chưa xả được phần
vi tế vì không biết làm sao mà xả. Còn thân là còn chướng ngại, các ngài không
còn thân nữa nhưng còn vô ngại, còn trụ định là ta. Bởi vì thức a-lại-da tuy nó
vô ngại nhưng nó vẫn còn chấp trì. Nên các vị này vẫn còn thức thực và tư thực
trong bốn thực (như đã nói ở phần tam tiệm thứ), vẫn còn thức chấp duy trì mạng
vị.
CÕI A-TU-LA
Lại nữa, A
Nan, trong ba cõi trời ấy, còn có bốn giống A tu la.
Nếu từ loài
quỷ, do sức bảo hộ chính pháp, được thần thông vào hư không, thì giống A tu la
này, từ trứng sinh ra, thuộc về loài quỷ.
Nếu từ cõi
trời, đức kém phải sa đọa, chỗ ở gần với mặt trời, mặt trăng, thì giống A tu la
đó, từ thai sinh ra, thuộc về loài người.
Có chúa A
tu la, nắm giữ thế giới, sức mạnh đến chỗ không phải sợ ai, có thể tranh quyền
với Phạm Vương, Đế Thích và Tứ Thiên Vương; giống A tu la này, nhân biến hóa mà
có, thuộc về loài trời.
A Nan,
riêng có một số A tu la thấp kém, sinh ra trong lòng biển lớn, lặn trong thủy
huyệt, ban ngày đi chơi trên hư không, tối về ngủ dưới nước; giống A tu la này,
nhân thấp khí sinh ra, thuộc về loài súc sinh.
A-tu-la là
loài quỷ thần hay còn gọi là phi thiên (không phải các vị trời như vừa nêu
trên). Tuy a-tu-la có thần thông biến hoá, nhưng còn nhiều lòng sân hận, tranh
đấu hơn thua sát phạt nên không được lên cõi trời.
Có bốn loại
a-tu-la:
1. A-tu-la
trời (do hoá sanh),
2.
A-tu-la người (do thai sanh),
3.
A-tu-la quỷ (do noãn sanh),
4.
A-tu-la bàng sanh (do thấp sanh).
Trong vòng
luân hồi, Đức Phật minh họa hình ảnh a-tu-la là tay cầm cung tên, đao gươm và
đánh chém tranh hơn tranh thua sát phạt với nhau.[5]
Đây là những cõi tu nhân riêng biệt mà gặt quả hư vọng nên
còn luân hồi.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


