Chào mừng bạn đến thăm nhà tôi!

This website is updated with the latest news about me and belongs to me.
If you want to use my articles, please contact me :)
Everyone has some secrets they cannot share. Please be a polite reader.
Don't be too curious about things that are none of your business! A million thanks!!!



Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2019

"Diệt Tuyệt sư thái" chu du Thiên Tử sơn

Đây là chùm ảnh "Diệt Tuyệt sư thái" của phái Nga Mi đi chu du Thiên Tử sơn. Ka ka ka ka
Yun Yun tự thấy mình già rồi, không dám làm Tiểu Long Nữ hay Hoàng Dung nữa, làm lão thái bà cho an toàn, kẻo gạch đá lại ăn đủ bộ xây biệt thự :) 

Bộ ảnh do 2 sư đệ chụp cho, tại Vũ Lăng Nguyên, Trương Gia Giới, tỉnh Hồ Nam.








Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2019

Bắc Du (2)


Thành Đô - Nơi mệnh danh đáng sống nhất TQ
Tỷ giá TQ-VN: 1 tệ bằng khoảng 3.400 vnd


Ngủ vật vờ được 1-2h trong sân bay lạnh tanh, 6h kém Yun và 2 đệ dây đánh răng vệ sinh xong thì tìm đường tới ga tàu điện ngầm nằm trong sân bay luôn. Tới nơi đã thấy đông nghẹt người, vé mua bằng máy tự động. Dù đã từng mua vé BTS ở Malaysia, nhưng khi nhìn thấy cái hàng máy mua tự động này Yun không khỏi lóng ngóng. Thấy nguy cơ ngu ngu bị nuốt tiền hoặc mua nhầm trạm thì còn nguy hơn, Yun đi loanh quanh xem thiên hạ mua như thế nào trước, coi xong vẫn chưa tiến hóa được chút nào. Tuy nhiên Yun chỉ có tờ 100 tệ nên phải đi đổi tiền 10, 20 tệ mới mua vé từ máy được. Hỏi người xung quanh thì cũng không ai có tiền lẻ. Có người chỉ Yun tới quầy trợ giúp ở đầu kia để nhờ nhân viên đổi, Yun cũng chạy đi ngay và đổi được tiền 10 tệ. Về quầy vé tự động thấy 2 anh chàng đẹp trai người Hoa đang tính mua vé, mặt mày sáng sủa thông minh nên Yun quyết định chạy tới cười cầu tài: “Ê, tụi mày mua dùm tao 3 vé đi”. Hai thằng cười ngất: “Tụi tạo cũng mua nhầm vé rồi”. Nghe xong Yun cụt hứng vô cùng. Bọn này người Hoa đọc được chữ mà còn mua nhầm, thử hỏi Yun Yun nhảy vào mua thì sao nữa. Đang lớ ngớ chưa kiếm được con cừu khác nhờ vả thì một chàng đẹp trai khác xuất hiện, chàng này không dùng tiền mặt mua mà dùng điện thoại quét mã trả tiền qua wechat. Thấy chàng này thông minh hơn nên quyết định mỹ nhân kế tiếp: “Ê, mày giúp tao mua vé được không, tao không biết mua”. Mới sớm, thấy vẻ mặt chàng ta khá vội, nhưng cũng chịu giúp Yun, hỏi Yun mua vé tới đâu, mấy vé,... Giá 3 vé cho 3 chị em Yun là 9 tệ, tuy nhiên anh chàng ko có 1 tệ thối cho Yun, Yun bảo ko sao, cứ mua dùm tao đi, tao đưa 10 tệ khỏi thối. Anh ta quét rẹt rẹt xong có ngay 3 vé. Thế là mấy chị em mừng rỡ xếp hàng qua máy quét hành lí để lên xe điện ngầm. Xe điện ngầm TQ chạy nhanh, có 3 ngôn ngữ Quan Thoại, Quảng Đông và tiếng Anh. Tụi Yun đi xe điện ngầm tới nhà ga xe lửa nam Quảng Châu. Quảng Châu có mấy nhà ga xe lửa lận.
Vé tàu đi Thành Đô
Ban đầu Yun tính đi tàu chậm (khoảng 250 tệ), nhưng tàu chậm chạy  lâu hơn tàu nhanh 1 ngày lận. Hai đệ vì muốn đi nhanh để tiết kiệm được 1 ngày đi chơi ở Thành Đô nên đòi đi tàu nhanh. Yun cũng bấm bụng chiều ý 2 em ấy, chứ giá vé tàu nhanh đắt gấp 2.5 lần tàu chậm. Giá tàu nhanh hạng 2 khoảng 550 tệ, loại hạng 1 còn đắt hơn. Yun đi vé hạng 2 thui mà cũng xót của quá rồi nè. Tàu lửa ở ga Nam là loại hiện đại đắt tiền, chạy nhanh, ở ga trung tâm thì giá vé rẻ hơn, tuy nhiên chất lượng cũng cùi bắp hơn. Tới được ga Nam thấy dân chúng toàn mua vé tự động, nhà ga thì lớn, người đông như quân Nguyên, Yun có nhờ người mua vé dùm nhưng họ kiểm tra thấy không có vé đi Thành Đô. Yun thấy vô lí quá, trước khi đi Yun tra rõ ràng là có tuyến đi Thành Đô mà. Yun cũng hơi hoảng và cảm thấy mình đang lạc vô cái xứ của ma quỷ, tiền mặt không xài, mua gì cũng quét mã bằng tiền wechat tự động. Yun vẫn nỗ lực đi hỏi người này người kia. Cuối cùng có 1 cô bé còn trẻ nói với Yun là có quầy bán vé thủ công. Cô bé chỉ lên dòng chữ trên bảng, bảo Yun đi theo hướng đó sẽ thấy. Mấy chị em Yun đi loằng ngoằng con cá trạch một hồi cũng mò được tới quầy vé. Trừ sân bay, ở nhà ga xe lửa thì bạn cũng nên dùng tiếng Hoa, vì nói tiếng Anh với mấy mẻ bán vé thì ù ù cạc cạc. Thậm chí có người còn mù tiếng Anh. Nếu bạn không muốn tự tìm rắc rối cho mình thì bắn tiếng Hoa cho nhanh việc. Lúc đó khoảng 8h sáng, Yun muốn mua vé đi liền nhưng 2 chuyến kế hết vé rồi, nên phải đi chuyến 10h30. Nghĩa là tụi Yun tới Thành Đô tối đó sẽ rất trễ. Tàu chạy khoảng hơn 10h đồng hồ. Trong lúc chờ xe lửa đi Thành Đô, nhóm Yun tranh thủ mua nước, thức ăn nhanh ở nhà ga và ăn sáng, sau đó tìm cửa ra ga lên tàu. Nhà ga không khác gì sân bay, cũng kiểm tra quét an ninh và có cổng ra ga các kiểu. Thật tình, Yun như con ngốc sống ở thế kỉ trước chưa tiến hóa kịp vậy. Tàu chạy rất đúng giờ, bạn nên làm thủ tục và ra cổng lên tàu sớm, chứ coi chừng kẹt giữa đoàn người xếp hàng đông nghẹt đó nhé.

Thư giãn trên tàu cao tốc

Tàu cao tốc chạy chuyến Quảng Châu - Thành Đô
Nhà ga Đông Thành Đô

Vì tối hôm trước bay đêm nên 3 chị em không ai có giấc ngủ trọn vẹn, nên sau khi lên tàu xong ai đó cũng thấy thư giãn với ghế nệm êm, vừa ngắm cảnh vừa chợp mắt. Tàu nhanh dạng hình con lươn, lướt siêu êm siêu nhanh và không nghe tiếng ồn động cơ luôn. Tiếp viên trên tàu cũng đẹp không kém tiếp viên hàng không. Ngủ được thiu thiu qua giấc trưa thì một tiếp viên gọi dậy cho coi vé. Tụi Yun cũng móc vé ra cho coi rồi thôi. Chắc họ thấy 3 thằng này đi từ đầu tới giờ không thấy xuống. Đa phần hành khách không ai đi xa như bọn Yun, kakaka. Hơn 9h tối thì tàu đến Thành Đô. Ở Nam TQ, mặt trời lặn rất muộn, 8h tối mới tắt nắng. Nhóm Yun tìm chỗ ga tàu điện ngầm, nhờ nhân viên mua dùm 3 vé về khu Chunxi, rồi tìm nhà nghỉ mà Yun đã chuẩn bị dữ liệu từ trước, Chengdu Flipflop Hostel Poshpacker. Cũng hơi khó tìm, hỏi mấy lượt mới tới nơi được, vì nhà nghỉ nằm trên tầng khu chung cư chứ không phải dưới mặt đất. Giường dorm giá 50 tệ/ đêm, đó là Yun đã trả giá, tiếp tân đòi 60 tệ cơ. Giá này cũng không phải rẻ, ở VN 150k có thể thuê phòng quạt được rồi, còn đằng này chỉ là 1 cái giường dorm. Tuy nhiên phòng ốc sạch, có máy lạnh, trong nhà vệ sinh có máy sấy tóc, xà bông tắm gội đầy đủ và tiếp tân nói tiếng Anh. Tắm rửa xong mấy chị em đi ăn, Yun hỏi giá món mì xào là 12 tệ/ đĩa (khoảng 40k). Chưa có kinh nghiệm, mấy chị em gọi 3 đĩa vừa mì vừa cơm, lúc tính tiền thì tính tụi Yun 18 tệ/ đĩa, tối đó ăn hết 54 tệ và là bữa cơm dở nhất đời Yun từng ăn, dầu mỡ và không mùi vị gì. Di chuyển một ngày dài mà ăn bữa cơm nuốt không trôi, gần như 3 chị em chỉ ăn vài muỗng rồi bỏ. Điên gì đâu. Yun chắc chắn là bị 2 vợ chồng nhà chủ quán đó chém đẹp vì thấy bọn Yun ngơ ngáo mà. Ăn cơm không trôi, cũng đã khuya, mấy chị em về nhà trọ ngủ, kế bên nhà trọ có tiệm bán trái cây, cherry 35 tệ/ cân (= nửa kí, TQ dùng đơn vị cân thay vì kg như mình), nhẩm tính thấy 1kg cherry chỉ 220k vnd, trong khi ở VN thấy dân tình quảng cáo trên fb là 400k/ kg. Chưa được ăn bao giờ nên tụi Yun mua 1 cân về ăn. Cherry tươi ngon, lần đầu ăn có khác, phê ơi là phê. Sau đó cả nhóm đi ngủ để sáng hôm sau trải nghiệm Thành Đô. Yun ngủ tầng trên, cùng giường tầng với Yun là 1 cô gái TQ đang làm việc ở Thụy sĩ, cô ấy ngủ lại tối đó ở Thành Đô để sáng hôm sau bay qua Thụy Sĩ. Yun cũng nói chuyện vài câu với cô ấy, tiếng Anh cô ấy nói rất tốt, Yun như bắt được vàng, rồi than phiền là bọn TQ chúng mày nói tiếng Anh tệ thế, mới ngày đầu ở TQ mà tao muốn tắt thở rồi. Cô ấy cười cười.
Bữa ăn tối 54 tệ bị bỏ lại do quá dở không nuốt trôi


Viện Văn Thù

Theo lịch trình Yun soạn trước, tụi Yun sẽ có 1 ngày trọn vẹn ở Thành Đô, và đi tham quan 3 nơi: Viện Văn Thù, Công Viên Nhân Dân, Vũ Hầu Từ (kế bên phố cổ Cẩm Lý). Chuẩn bị trước tâm lý là nếu vì ngơ ngáo lạc đường thì lịch trình sẽ cắt vài chỗ, nhưng may là nhóm Yun tiến hóa rất nhanh. Mới ngày đầu bị ngáo đá, bị chém đẹp thì ngày hôm sau đã thông minh thấy rõ. Yun có kinh nghiệm đi nhiều nơi, còn 2 đệ lại là dạng thông minh vốn sẵn tính trời, tài hoa anh tuấn, sao lại để bọn TQ bắt nạt hoài được, kakaka.

Sáng tụi Yun trả phòng và nhờ hostel giữ hành lí hộ, vì dự kiến đi tới chiều mới về rồi mấy chị em đi Nga Mi luôn (giờ check out là 12h hàng ngày nên Yun sợ đi chơi về trễ bị trả thêm tiền). Từ nhà trọ đi bộ qua bến xe điện ngầm có bán đồ ăn sáng, hỏi giá thì đắt như trên trời, bánh bao nhỏ xíu giá 10 tệ, vẫn còn bực bữa ăn tối hôm trước, Yun đi thẳng luôn mà không mua. Tiến hóa đầu tiên của 3 chị em cho ngày mới là tự mua vé tàu điện ngầm sau khi được mua giúp 2 lần và quan sát đủ hiểu cách thức mua rồi. Cả nhóm đi xe điện tới Viện Văn Thù, là nơi  thờ đức Văn Thù bồ tát, hiện thân của trí tuệ trong Phật giáo đó. Ra khỏi ga điện ngầm đi bộ tới viện Văn Thù có khá nhiều quán bán đồ ăn sáng, giá rẻ, bánh có 2-3 tệ/ cái. Dân bản địa cũng xúm xít mua đông, biết là giá địa phương rồi nên Yun cho các em mua đồ ăn sáng, vừa ăn vừa đi tìm đường tới viện Văn Thù. Chùa chiền TQ thông thường có bán vé 10 tệ khi vào cổng, nhưng sáng đó không hiểu sao mấy chị em vào mà không phải trả tiền vé, lại được uống trà nóng phát miễn phí trong chùa nữa. Trong Văn Thù viện cây cối xanh mát, có người già tập dưỡng sinh buổi sáng hoặc ngồi thành nhóm tán gẫu hơi nhiều. Một số hình ảnh chụp ở Văn Thù viện.










Công Viên Nhân Dân

Rời Văn Thù viện, cả nhóm đi Công Viên Nhân Dân, công viên này không tính phí vào cổng, là công viên lớn nhất ở Thành Đô, với những quán trà trong công viên là văn hóa đặc trưng của vùng này. Tuy nhiên, uống trà trong công viên giá k hề rẻ nhé, khoảng 15 tệ/ ly lận. Tụi Yun chỉ đi tham quan chụp hình chứ không uống trà. Trong công viên còn có các mẹ các chị lớn tuổi tập trung thành nhóm múa hát nữa đó. Buổi trưa, mấy chị em ra khỏi công viên và mua bánh trái ăn trưa. Bánh kẹp hành chiên giá có 2 tệ/ cái à, ăn khá ngon và lạ miệng, tuy nhiên đệ D thì không hợp khẩu vị lắm, còn đệ V có vẻ giận Yun vì không cho đệ ấy vào các quán ăn ngon. Hình ảnh công viên Nhân Dân:




Vũ Hầu Từ

Vũ Hầu tức Gia Cát Lượng, nhà chính trị, quân sự, thiên văn,... nổi danh của Trung Hoa thời Tam Quốc. Đây là đền thờ ông. Vé vào cổng cũng hơn 100k tiền Việt, nhưng tụi Yun cũng không mất tiền vé, vì không vào bên trong, chỉ đi vòng ngoài công viên chơi và dạo qua phố cổ Cẩm Lý gần đó thôi. Một vài hình ảnh về Vũ Hầu Từ và phố cổ Cẩm Lý:






Một ngày ở Thành Đô và tham quan hết các nơi trong kế hoạch, không bỏ qua chỗ nào trong lịch trình, chứng tỏ đã tiến hóa nhiều, keke. Cả nhóm về nhà trọ lấy hành lí và ra ga tàu hỏa mua vé đi Nga Mi trong chiều muộn hôm đó. Ra ga thì mới biết vé đi Nga Mi đã bán hết, Yun tự trách mình ỷ y không mua vé sớm. Cô bán vé ở ga Đông bảo là ở bên ga Nam Thành Đô còn chuyến tàu muộn đi Nga Mi lúc 9h tối. Tức là tụi Yun sau khi mua vé xong phải chạy qua ga Nam để khởi hành. Bên ga Nam quy mô nhỏ hơn ga Đông. Lạ chỗ mà đi tối là một yếu thế, tuy nhiên cứ đi thôi còn hơn phải ngủ lại ga tàu. Yun là một kẻ lang bạt kì hồ, cũng không quan tâm đến tối nay ở đâu, ăn gì cả. Tới ga Nam đợi tàu vẫn còn sớm, Yun tính toán chi phí trong 2 ngày ở TQ rồi thanh toán tiền trong nhóm. Xong xuôi Yun xử tới vụ đệ V giận hờn cả ngày nay vì em ấy cho rằng Yun không cho em ấy ăn xài gì cả. Thực ra, tiền của em ấy, em ấy xài gì mua gì Yun không bao giờ cản. Tuy nhiên, em ấy mua cũng bắt người khác mua hoặc ăn theo em ấy là Yun không đồng ý. Vì Yun muốn tiết kiệm để đi chơi, khả năng tài chính của Yun không thể như em ấy được. Thu nhập của em ấy gấp 4-5 lần Yun một tháng, mỗi người có cách chi tiêu khác nhau, em ấy muốn ăn gì tự mà ăn, sao có thể ép Yun phải theo, điều này quá vô lý, rồi còn càm ràm trù ẻo Yun cả ngày là tiết kiệm tiền từng đồng nhỏ thể nào cũng bị mất món tiền lớn khiến Yun rất tức giận. Em ấy bảo ăn là phải ăn chung, điều này Yun không đồng ý. Cho nên chi trả tiền sòng phẳng xong Yun muốn để cho em ấy đi đâu thì đi, làm gì thì làm, Yun không quản nữa. Yun giải thích rõ ràng cho em ấy hiểu là trước khi đi Yun nói trước là đi bụi, chứ không phải đi du lịch, thích thì đi theo, chứ Yun không có dụ dỗ hay ăn được đồng nào từ em ấy mà em ấy tỏ thái độ như kiểu Yun thu phí du lịch của em ấy rồi cung cấp dịch vụ tệ cho em ấy vậy. Một tiếng cám ơn Yun không cần nhận, nhưng trù ẻo kiểu đó là một điềm không tốt và Yun bốc hỏa luôn, cứ thử ở VN đi là Yun bỏ luôn cho khỏe rồi. Nói ngay ra dẫn em ấy đi vậy em ấy học được nhiều kĩ năng sống mà không tốn đồng nào, lại được đi với giá rẻ. Nhiều người cầu Yun dẫn đi còn không được ấy chứ. Đệ ấy là người thông minh, nên luôn có tâm thế thích lãnh đạo chỉ đạo người khác. Tuy nhiên, Yun là người không ép người khác nhưng cũng không để người khác ép mình. Nếu không hợp thì bấm nút chia tay. Đệ D thấy tình hình căng thẳng quá nên dàn xếp 2 bên làm hòa. Đệ D cũng giải thích là mới 2 ngày thôi mà mỗi người xài hết gần 1000 tệ rồi , nếu cứ tiếp tục như vậy sẽ hết tiền trước khi về vì còn tới 10 ngày nữa, và không biết xoay sở ra sao, nên chị Yun chỉ muốn tiết kiệm cho an toàn thôi. Thấy đệ D hiểu tình đạt lý hơn cái tên đệ cố chấp kia, Yun hạ hỏa phần nào. Yun quan sát đệ ấy, nếu cứ tiếp tục thái độ gia trưởng, thích mọc sừng hươu sừng bò thì Yun bấm nút cho tự đi luôn. À, phải cho luôn thằng bạn chí cốt của em ấy đi với em ấy nữa. Cặp bài trùng này không thể tách rời nhau. Còn Yun đi 1 mình cũng quen rồi. Để coi với 4000 tệ em ấy tự xoay sở và du lịch ra sao. Nếu ở nước khác chắc sẽ ăn ngon sống tốt, nhưng ở TQ mà mù tiếng thì coi như việc trả tiền ngu là chắc chắn phải xảy ra. Cho dù không bị lừa chăng nữa, không nói được tiếng họ thì muốn mua vé tàu về Quảng Châu cũng khó chứ đừng nói là đi chơi. Chắc trong lòng vẫn còn tức Yun lắm, nhưng thái độ không còn hung hăng nữa. Thấy vậy Yun cũng thôi, bỏ đàn em nơi xứ lạ quê người cũng hơi ác, nếu không sừng hưu sừng bò với Yun thì Yun cũng sẽ không làm vậy. Với mình làm người lớn, chấp nhặt mấy đứa con nít chỉ mệt mình, biết tính đệ ấy vậy sau này không đi chung nữa là được, còn chuyến này thì đã lỡ nhận lời dẫn đi rồi mà, Yun cũng nên làm tròn trách nhiệm của một sư tỷ. Yun thuộc cung Thiên bình, mau quên nhưng thù dai. Có thể đệ ấy cũng sẽ đọc được những dòng này và tiếp tục giận Yun, nhưng Yun cũng chả gì phải sợ, Yun chả làm gì sai với đệ ấy cả. Bình thường Yun không hay phán xét ai, nhưng nếu để trúng tầm ngắm của Yun thì sau này tiểu tiết nhỏ nhặt Yun cũng để ý. Đó là cái tính xấu của Yun Yun đó, kaka.

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2019

Bắc Du (1)


Hành trình Trung Quốc

Yun có ý định đi TQ từ nhiều năm trước, nhưng vì xét thấy chưa đủ duyên nên năm này trôi qua năm khác vẫn chưa thực hiện được. Hè năm nay với sự quyết tâm, sự chuẩn bị kĩ lưỡng từ nhiều tháng trước, cuối cùng Yun cũng thỏa mãn ước mong đi chu du Nam TQ của mình. Hôm nay Yun vừa về tới nhà, việc đầu tiên là soạn hình trong máy ảnh (khoảng 16G) và bắt đầu viết lại kí sự cho khỏi quên, mời bạn đọc cùng phiêu lưu với Yun nhé.

Khác với những lần ra giang hồ trước, Yun thường đi một mình, chuyến Bắc Du lần này Yun có thêm 2 sư đệ tài hoa đi chung nữa. Từ chuyến đi Đảo Rong lần trước thấy các em ý có thể chịu vất vả được nên Yun mới quyết định dẫn theo, chứ mà tiểu thư, thiếu gia quá thì chắc ăn là không thể đi hành xác với Yun được. Trước giờ Yun cũng chưa từng dẫn theo ai trong các hành trình dài ngày của mình để tránh rắc rối cho bản thân. Các hành trình của Yun nếu độc giả thường xuyên đọc cũng thấy đó, Yun chỉ đi bụi chứ không đi du lịch, hoặc đi bán du lịch mà thôi (có nghĩa là sướng hơn đi bụi chút, nhưng vẫn không sang chảnh như đi du lịch). Trước khi đi đệ D phán 1 câu: "Chị đi đâu em đi đó, tính mạng em giao cho chị đó". Yun cười lớn, đùa lại rằng nếu muốn giao thì hãy giao tiền cho Yun, còn tính mạng của em ý Yun không nhận đâu, kakaka. Có lẽ mới ra giang hồ nên em ý có chút hồi hộp, chứ như Yun thì còn biết sợ là gì nữa. Thỉnh thoảng Yun vẫn trêu em ấy là qua TQ sẽ mang em ý đem bán cho Lý Tử Thất (cô nàng Tứ Xuyên rất nổi trên mạng về các món ăn nghệ thuật) hoặc cho ai đó  muốn mua để có thêm vài đồng lộ phí cho Yun. Cho 2 em ý ở lại làm rể TQ luôn, Yun đi một mình về thoai, keke.

Để có thể nhập cảnh TQ, đầu tiên là bạn cần phải lo visa. Tự xin visa giá 60usd nhé cả nhà. Nếu ở phía Nam có thể tới lãnh sự quán TQ ở TPHCM xin visa cùng một mớ giấy tờ họ yêu cầu. Tuy nhiên Yun có nỗi khổ về việc xin nghỉ phép nên nếu tự xin sẽ rất cực cho Yun, lại cũng không có thơì gian đi chầu chực tại lãnh sự quán nên Yun quyết định làm visa dịch vụ. Giá làng là 150usd cho 1 hộ chiếu visa dịch vụ. Tuy nhiên Yun tìm được chỗ làm rẻ hơn với giá 110usd với điều kiện là Yun phải có giấy xác nhận việc làm và giấy nghỉ phép của cơ quan. Vì không thể xin giấy nghỉ phép từ cơ quan Yun, nên Yun nhờ em Út có công ty xây dựng nho nhỏ làm dùm Yun 2 giấy trên, tiện làm luôn cho 2 đệ của Yun luôn. Thế là tiết kiệm được 40usd mỗi người vụ xin visa, tính ra cũng gần triệu đồng. Vì Yun không kiếm được nhiều tiền nên khi đi chơi Yun canh ke dữ lắm, đỡ khoản nào hay khoản đó. 

Vé máy bay thì Yun book vé hãng Jetstar, dù biết hãng này là chúa delay, nhưng vì giá rẻ nên vẫn phải sống chung với lũ thoai. Vé khứ hồi HCM – Quảng Châu khoảng 4-5tr tùy thời điểm, nếu có ý đi nên mua vé sớm vài tháng cho rẻ. Nếu mua gấp giá vé có thể dao động từ 8-10tr đó. Ngoài ra, vì biết TQ không dùng tiếng Anh nhiều, đặc biệt những chỗ ít khách nuớc ngoài, Yun đã tự học chút tiếng Trung làm vốn. Sau này Yun thầm cảm ơn bản thân đã sáng suốt vụ này, vì nếu không nói được tiếng Trung, kì này chắc phải trả kha khá tiền ngu các kiểu, chưa kể khi mua vé xe, mua hàng, bạn đành chịu chết với mấy mẻ bán vé, tiếng Anh nửa chữ bẻ đôi không biết. Ở Trung Quốc, nếu bạn hỏi ai đó có biết tiếng anh không, họ mà trả lời biết 1 chút thì 80% là họ chỉ có thể nói yes/no với bạn. Hic hic. Về đổi tiền TQ thì Yun đổi ở tiệm vàng Hà Tâm, ở chợ Bến Thành. Yun đi 12 ngày, đổi 5000 tệ xài là thoải mái. Lúc về mấy chị em ai cũng còn dư gần 2000 (do Yun quản lí chặt quá mà, kakaka). Nên đổi dư ở VN, qua TQ rất khó ra ngân hàng đổi tiền nếu mang usd theo. Về không xài hết thì đổi lại là xong.
Vé máy bay HCM- Quảng Châu


Đồ đạc mang theo Yun soạn cho cả nhóm bao gồm một số thứ, Yun không mua hành lí kí gửi, chỉ xách tay 7kg khi đi mà thôi, share cho bạn đọc tham khảo:
·        Quần áo: khoảng 5 bộ, ưu tiên áo mỏng nhẹ dễ khô.
·        Áo khoác chống lạnh 1 cái, găng tay giữ ấm 1 đôi , vớ 2 đôi, khăn choàng cổ 1-2 cái, nón 1 (nếu có)
·        Xà bông: gội, tắm, giặt, kem đánh răng, bàn chải, khăn, listerin. Lưu ý, nếu chất lỏng chai <100ml
·        Giày dép: 1 đôi thể thao phòng hờ đi bộ xa đau chân, 1 đôi đép lê.
·        Áo mưa cá nhân 1
·        Một chút đồ ăn khô lót dạ, phòng khi trên xe ko có gì ăn, mang ít thôi.
·        1 chai nhựa nước suối (để qua sân bay lấy nước miễn phí, đi đánh răng ở ga tàu,...)
·        Thuốc tây (nếu ai có bệnh hoặc say xe) và dầu gió.
·        Hộ chiếu và tiền (vô cùng quan trọng)
·        Khăn giấy khô/ ướt
·        Thuốc ngộ độc thực phẩm, panadol sủi, thuốc nhỏ mắt, kẹo ngậm ho
·        Lịch trình thông tin, bản đồ, vé máy bay
·        Kem chống nắng, son, mỹ phẩm, trang sức
·        Găng tay nhựa để giặt đồ, thuốc chống khô da, kim chỉ, kim băng, viết, note

Tuy nhiên Yun đi vào mua hè, nên thấy găng tay và vớ chân cũng không cần thiết lắm. Áo mưa hoặc dù thì qua TQ mua vẫn được. Áo khoác chỉ 1 cái mỏng cho gọn nhẹ hành lí. Mùa đông thì bạn cần trang bị kĩ hơn. Sau này khi tới TQ rồi Yun mới thấy nên mang theo mì gói và 1 cái tô ăn mì cùng muỗng đũa. Bạn nào nghiền cafe nên mang theo cafe gói và 1 cái ly luôn, sẽ rất hữu ích đó.

Về hành trình tham quan thì Yun chọn 3 tỉnh phía Nam của TQ gồm: Quảng Đông (thủ phủ Quảng Châu), Hồ Nam và Tứ Xuyên. Thực ra Quảng Châu không có gì đẹp cả, nhưng vì giá vé bay tới Quảng Châu rẻ hơn mấy chỗ khác nên thôi lỡ thích mua rẻ rồi nên chịu cực xíu là đi chơi xa, điểm nhấn của chuyến đi này là Tứ Xuyên và Hồ Nam. Trong đó không thể bỏ qua Nga Mi sơn, Phượng Hoàng Cổ Trấn và Trương Gia Giới. Yun bay chuyến 11h khuya từ HCM sang Quảng Châu khoảng 3h sáng. Việc đầu tiên là làm thủ tục nhập cảnh, có máy tự động scan hộ chiếu và lấy dấu vân tay, có cả hướng dẫn bằng tiếng Việt, sau khi lấy dấu vân tay xong thì bạn phải điền vào phiếu nhập cảnh thông tin cơ bản rồi xếp hàng qua hải quan. Yun bị nữ hải quan hỏi linh tinh một số thứ trước khi nhập cảnh, cả đám người xếp trước không ai bị hỏi, tự nhiên tới Yun cô này bắt đầu hỏi: “Mày nói được tiếng Anh không?”. Yun thầm nghĩ bụng, tiếng Trung tao còn nói được chứ tiếng Anh là gì. Nhưng không tiện thể hiện nên Yun nở một nụ cười tươi nhất có thể và bảo: “Tôi nói được”. Thế là cô ta hỏi Yun đi TQ làm gì, tính đi đâu, ở mấy ngày, đi cùng ai,...đại loại thế. Thấy Yun trả lời chuẩn quá nên đóng mộc cho qua chứ không làm khó gì. Xong thì Yun chờ 2 sư đệ, đệ D qua dễ dàng nhưng bỗng dưng đệ V bị đem qua phòng cách li. Yun vô cùng hồi hộp không biết đệ ấy đã gây họa gì, đoán già đoán non bị hải quan hỏi chắc trả lời tào lao nên bị mang đi thẩm vấn. Chờ khoảng 15ph sau thì đệ ấy cũng được thả. Thì ra chuyện không có gì to tát, chỉ là gương mặt trong hình và ngoài đời có chút không giống nhau nên bị đem đi xác minh thoai, hú cả hồn.
Tờ khai nhập cảnh sau khi lấy dấu vân tay bằng máy tự động

Lần đầu đi TQ nên cũng lơ ngơ, vì trời chưa sáng nên tụi Yun kiếm chỗ ngủ lại sân bay, nơi cũng có vài người đang gà gật ngủ ở đó, chờ trời sáng đi xe điện ngầm tới nhà ga để mua vé xe lửa đi Thành Đô, thủ phủ của Tứ Xuyên. (Nơi cô nàng Lý Tử Thất đang sống, và là zai nhân trong mộng của sư đệ Yun Yun)

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2019

Mạc Cửu, người khai phá Miền Tây

Lời nhắn: Yun yun đang đi giang hồ, các bạn chờ đọc những bài viết hấp dẫn khi Yun trở về nhé. Đây là bài đăng tự động, để các bạn đọc trong thời gian vài ngày chờ Yun, hihihi.
........................................................
(sưu tầm)
Giữa thế kỷ 17, nhiều cuộc khởi nghĩa chống nhà Mãn Thanh đã xảy ra trong lục địa Trung Hoa. Dưới sự chỉ đạo của Trịnh Thành Công, một vị tướng Minh triều cũ gốc Triều Châu, dân chúng nổi lên chống lại quân Thanh nhưng đều bị đánh bại, tất cả các làng xã của người Tiều ở Triều Châu và vùng ven biển Hạ Môn đều bị thiêu rụi. Tàn quân của Trịnh Thành Công (Kosinga) phải chạy ra đảo Đài Loan lập chiến khu “phản Thanh phục Minh”.
Trong đám tàn quân này có một người tên Mạc Cửu (hay Mạc Kính Cửu), quê ở Lôi Châu tỉnh Quảng Đông, theo Trịnh Thành Công kháng chiến. Năm 1671 thấy chống không nổi quân Thanh, Mạc Cửu mang cả gia đình, binh sĩ và một số sĩ phu khoảng 400 người rời khỏi Phúc Kiến bằng đường biển. Quân của Trịnh Thành Công ngày càng suy yếu bị quân Thanh đánh bại năm 1680. Quân Thanh tàn sát hết kháng chiến quân, những người sống sót bỏ chạy bằng đường biển đến các quốc gia Đông Nam Á tị nạn, hòa nhập với những nhóm Minh triều cũ đã di cư từ trước.


Căn Khẩu Quốc
Mạc Cửu cùng thân bằng quyến thuộc sau nhiều ngày lênh đênh trên biển cả đã cập thuyền vào đảo Koh Tral, rồi đổ bộ lên một vùng đất lạ (được gọi là Panthaimas) trong Vịnh Thái Lan. Mạc Cửu dò hỏi và được biết vùng đất này thuộc ảnh hưởng của vương triều Lục Chân Lạp. Phái đoàn Mạc Cửu đến Oudong gặp Nặc Ông Thu (Chey Chettha IV) và ở lại hợp tác cho đến năm 1681. Sau đó Mạc Cửu xin vua Khmer cho khai khẩn vùng đất sình lầy Panthaimas trong Vịnh Thái Lan.
Thật ra trong giai đoạn này vương quyền của vua Chân Lạp không còn ảnh hưởng mạnh trên những vùng đất ven biển. Vịnh Thái Lan là nơi hành nghề của các đám hải tặc vì nơi này thương thuyền qua lại rất đông. Quan quân Chân Lạp vì bận rộn với những cuộc nội chiến và không đủ khả năng bảo vệ vùng đất này đã bỏ trống mặc cho hải tặc lập căn cứ. Hơn nữa đây là vùng đất sình lầy phèn chua nước mặn, đầy muỗi mòng không ai dám đến lập nghiệp, chỉ một số dân phiêu lưu đến ở. Thời này đất Panthaimas chỉ có độ mươi nóc gia của người Khmer làm nghề săn bắn và đánh cá.
Mạc Cửu cũng là một tay giang hồ giỏi tổ chức. Trong suốt thời gian lênh đênh trên biển cả ông đã chiêu tập được một số binh sĩ Minh triều cũ đang hành nghề hải tặc dưới trướng. Thấy có khả năng khai thác nguồn lợi của những đám hải tặc trong vùng, ông lập ra 7 xã : Mán Khảm (Peam), Long Kỳ (Ream), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Konpong Som), Sài Mạt (Cheal Meas), Linh Quỳnh (Rạch Giá) và Phú Quốc (Koh Tral). Thủ phủ đặt tại Mán Khảm (cảng của người Mán), về sau đổi thành Căn Khẩu (tiếng Hoa tùy theo ngữ âm gọi là Căn Kháo hay Căn Cáo, xem Phụ lục 2). Mạc Cửu cho thành lập nhiều sòng bạc để kinh tài. Được nổi tiếng, ông mộ thêm lưu dân gốc Hoa từ khắp nơi về lập nghiệp và đặt tên vùng đất mới thành Căn Khẩu Quốc. Căn Khẩu Quốc, tuy là một lãnh địa của Lục Chân Lạp nhưng không lệ thuộc trực tiếp vào nền hành chánh của vương triều Khmer, được hưởng qui chế tự trị.
Lưu dân, đa số là người Triều Châu, Quảng Đông và Phúc Kiến, lúc ban đầu là những người không chấp nhận sống dưới trướng nhà Thanh bỏ nước ra đi xây dựng cuộc sống mới. Thành phần xã hội cũng rất đa dạng : người giỏi về văn học, kẻ giỏi nghề đi biển, người thạo nghề buôn bán, nắm vững kỹ thuật chế biến thực phẩm, kẻ biết canh tác lúa nước và đánh cá trên sông lạch, nói chung họ là những thành phần ưu tú của vương triều vừa thất sủng. Về sau có thêm dân chúng nghèo khó dưới thời nhà Thanh đến xin tị nạn. Chẳng bao lâu sau Căn Khẩu Quốc nổi tiếng khắp vùng là miền đất trù phú, dễ kiếm tiền. Đảo Koh Tral được đổi tên thành đảo Phú Quốc, có nghĩa là vùng đất giàu có, phú cường. Những tay phiêu lưu giang hồ đến đầu quân dưới trướng Mạc Cửu ngày càng đông và là một đe dọa uy quyền đối với Xiêm La, một thế lực đang lên trong vùng.
Trước sự lớn mạnh của đế quốc Xiêm La, Mạc Cửu yêu cầu vua Chân Lạp bảo vệ nhưng không được thỏa mãn. Chân Lạp cũng đang bị Xiêm La khống chế. Mạc Cửu dò tìm một thế lực mạnh trong vùng để xin được bảo vệ, ông được một thương gia người Minh Hương tên Tô Quân cho biết xa hơn về phía Tây-Bắc, những người Hoa tị nạn khác được chúa Nguyễn cho định cư tại miền Đông đang phát triển nhanh chóng. Thêm vào đó, quân của chúa Nguyễn đang làm chủ miền Tây đất Chân Lạp và đang đối đầu với quân Xiêm La. Năm 1708 Mạc Cửu sai hai người thân tín, Trương Cầu và Lý Xa, ra Huế xin được che chỡ. Năm 1711, Mạc Cửu được Minh vương Nguyễn Phúc Chu mời ra Huế bái kiến. Năm 1714, Mạc Cửu xin làm thuộc hạ của chúa Nguyễn và được phong chức tổng binh cai trị đất Căn Khẩu.
Năm 1717, vua Xiêm mang 20.000 quân tấn công các làng xã của những di dân gốc Hoa tại Căn Khẩu, Mạc Cửu thua phải bỏ chạy. Năm 1724, ông đích thân vào Gia Định dâng luôn đất và xin Ninh vương Nguyễn Phúc Trú giúp khôi phục lại Căn Khẩu Quốc. Chúa Nguyễn mang quân xuống đánh, quân Xiêm thua phải rút về nước. Ninh vương thu hồi tất cả làng xã bị chiếm rồi phong Mạc Cửu làm đô đốc cai trị đất Căn Khẩu. Căn Khẩu Quốc được đổi thành Long Hồ dinh.
Từ 1729, Long Hồ dinh nổi tiếng là vùng đất trù phú nhất vịnh Thái Lan. Tuy bị đổi tên nhưng di dân Trung Hoa vẫn tiếp tục gọi Long Hồ dinh là “Căn Khẩu Quốc”. Người Hoa từ khắp nơi trong vùng (bị người Tây Ban Nha và Hòa Lan đàn áp, xem Phụ lục 1) đổ về đây lập nghiệp. Quân Khmer và Xiêm La đã tấn công nhiều lần vào vùng đất này nhưng đều bị Mạc Cửu đẩy lui.
Mạc Cửu mất (1735), con là Mạc Sĩ Lân, sau đổi thành Mạc Thiên Tứ, được Ninh vương Nguyễn Phúc Trú phong làm đô đốc, kế nghiệp cha cai trị Long Hồ dinh. Gia đình họ Mạc được Ninh vương nâng lên hàng vương tôn. Long Hồ dinh đổi thành trấn Hà Tiên.
Bình định đất đai miền Tây
Mạc Thiên Tứ (còn gọi là Mạc Thiên Tích) là một vị tướng giỏi, đã nhiều lần mang quân tấn công Xiêm La và bảo hộ vùng phía nam đất Chân Lạp. Mạc Thiên Tứ có công mở rộng thị trấn Hà Tiên và năm 1739 lập thêm bốn huyện : Long Xuyên (miền Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (miền Cần Thơ) và Trấn Di (miền bắc Bạc Liêu). Mạc Thiên Tứ còn là một nhà học thức lỗi lạc, kiến thức uyên bác, giỏi ngoại giao, có tài thơ văn, đã để lại nhiều tác phẩm giá trị (xem Phụ lục 2).
Thời bấy giờ nội bộ Chân Lạp có loạn. Năm 1747, Nặc Ông Thâm (Thommo Racha III) từ Xiêm La về đánh đuổi Nặc Ông Tha (Chettha V) chiếm ngô, Ông Tha chạy sang Gia Định cầu cứu. Nặc Ông Thâm sau đó bị Satha II giết, con cháu lại tranh giành ngôi báu. Năm 1749, Nguyễn Phúc Khoát cho quân hộ tống Ông Tha về nước lấy lại ngôi vua. Một người con của Ông Thâm tên Nặc Nguyên (Nac Snguon) nhờ quân Xiêm La sang đánh, Ông Tha thua phải chạy về Gia Định.
Nặc Nguyên mật giao với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài hợp lực đánh chúa Nguyễn. Nguyễn vương biết trước nên năm 1753 cử Nguyễn Cư Trinh sang Nam Vang đánh. Nặc Nguyên thua bỏ thành chạy về Hà Tiên nương náu nhà Mạc Thiên Tứ. Năm 1755, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng chúa Nguyễn lãnh thổ hai phủ Tầm Bôn (Cần Thơ) và Lôi Lập (Long Xuyên) để tạ tội và xin được về lại Nam Vang cai trị, chúa Nguyễn ưng thuận.
Năm 1758 Nặc Nguyên mất, không người kế vị. Nặc Nhuận là chú họ tạm quyền giám quốc nhưng bị con rể là Nặc Hinh giết rồi tự xưng vương. Chúa Nguyễn sai Trương Phúc Du mang quân sang đánh, Nặc Hinh bị thuộc hạ giết chết. Do đề nghị của Mạc Thiên Tứ, chúa Nguyễn thuận cho Nặc Tôn (Ang Ton II) con của Nặc Nhuận lên làm vua.
Nặc Tôn tặng chúa Nguyễn lãnh thổ Tầm Phong Long (Meat Chruk hay Mật Luật, nay là Châu Đốc và Sa Đéc) để tạ ơn. Nặc Tôn tặng riêng Mạc Thiên Tứ lãnh thổ 5 phủ miền Đông-Nam Chân Lạp : Hương Úc (Kompong Som), Cần Bột (Kampot), Trực Sâm (Chưng Rừm), Sài Mạt (Cheal Meas) và Linh Quỳnh (vùng duyên hải từ xã Sré Ambel đến làng Peam), nói chung là toàn bộ vùng biển ven duyên quanh đảo Phú Quốc. Mạc Thiên Tứ dâng hết cho Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Chúa Nguyễn sát nhập tất cả vùng đất mới vào trấn Hà Tiên rồi giao cho Mạc Thiên Tứ cai trị.
Chúa Nguyễn quy các lãnh thổ miền Tây thành ba đạo : Đông Khẩu đạo (Sa Đéc), Tân Châu đạo (Tiền Giang) và Châu Đốc đạo (Hậu Giang), chuyển Long Hồ dinh về đất Tầm Bào (Vĩnh Long) thuộc Châu Đốc đạo. Đất Tầm Bào trước kia gồm có một phần bờ biển của Chân Lạp do Nặc Tôn tặng. Công cuộc bình định đất đai miền Nam xem như hoàn tất.
Hà Tiên : vùng đất của tranh chấp
[Năm 1767, quân Miến tiến chiếm Xiêm La bắt được vua Xiêm là Phong vương (Boromoraja V) và con là Chiêu Đốc, thiêu hủy thành Ayuthia, nhưng sau đó phải rút về vì Miến Điện bị Trung Hoa tấn công. Hai người con của Phong vương là Chiêu Xỉ Khang chạy thoát sang Chân Lạp và Chiêu Thúy sang Hà Tiên lánh nạn. Trong thời gian này Xiêm La không có vua].
Trình Quốc Anh, một người Hoa gốc Triều Châu, giữ chức Phi Nhã (xã trưởng) đất Mang Tát thuộc Xiêm La, khởi binh chống lại quân Miến rồi tự xưng vương năm 1768. Trình Quốc Anh tổ chức lại binh mã, chiêu mộ rất nhiều hải tặc gốc Hoa đang hoạt động trong Vịnh Thái Lan để tăng cường lực lượng. Trình Quốc Anh muốn triệt hạ uy lực của gia đình Mạc Thiên Tứ tại Hà Tiên vì đó là một đe dọa và là địch thủ lợi hại cho uy quyền của ông trong Vịnh Thái Lan. Sự giàu có của Hà Tiên cũng khơi động lòng tham của rất nhiều tướng cướp trong vùng, ai cũng muốn đánh cướp vùng đất này nhưng tất cả đều sợ Mạc Thiên Tứ. Khi Trình Quốc Anh kêu gọi hợp tác, các nhóm hải tặc liền hùa theo binh lực Xiêm La tấn công Hà Tiên để cướp của.
Năm 1768 lấy cớ truy lùng một hoàng tử Xiêm, Trình Quốc Anh mang quân tiến chiếm Hòn Đất, bắt giam và tra tấn nhiều giáo sĩ công giáo để tìm nơi trú ẩn của Chiêu Thúy, đồng thời sai tướng Chất Tri (Chakri) mang quân bảo hộ Chân Lạp và đưa Nặc Ông Nộn (Ang Non III) lên làm vua. Nặc Tôn chạy về Gia Định lánh nạn. Quân của Trình Quốc Anh đã ở lại Hòn Đất ba tháng để truy lùng vị hoàng tử Xiêm lưu vong nhưng không tìm ra. Trước khi rút về nước, Trình Quốc Anh cho thành lập trên đảo một căn cứ hải quân và để lại một toán cướp biển nghe ngóng tình hình, tìm cơ hội đánh chiếm Phú Quốc và Hà Tiên.
[Năm 1765 giáo sĩ Bá Đa Lộc (Béhaine de Pigneau) đã thành lập tại Hòn Đất một chủng viện nhỏ với khoảng 40 giáo dân Việt, Xiêm và Hoa sống trong mấy ngôi nhà bằng tre. Năm 1767, Bá Đa Lộc cho vị hoàng tử Xiêm trú ẩn trong chủng viện].
Năm 1769, quân Khmer dưới sự chỉ đạo của một cướp biển người Triều Châu tên Trần Liên đổ bộ lên Hòn Đất. Trần Liên đánh cướp trụ sở truyền đạo, sát hại nhiều giáo sinh và giáo dân. Bá Đa Lộc cùng một vài giáo sinh thoát được chạy sang Malacca (Indonesia), rồi về Pondichéry (Ấn Độ) lánh nạn. Hoàng tử Chiêu Thúy được người đưa vào Hà Tiên xin Mạc Thiên Tứ che chở. Quân của Trần Liên, kết hợp với hai gia nhân của Mạc Thiên Tứ (Mạc Sung và Mạc Khoán), tiến đánh Hà Tiên. Hai gia nhân làm phản và một số lớn cướp biển Khmer bị Thiên Tứ giết chết, Trần Liên thoát được chạy sang Xiêm La tị nạn. Lợi dụng cơ hội này Mạc Thiên Tứ chuẩn bị đưa hoàng tử Chiêu Thúy về Xiêm La đoạt lại ngôi báu. Ông cho luyện tập binh mã rồi mang quân ra chiếm lại Hòn Đất (1770) và chuẩn bị tiến công Xiêm La.
Công việc đang tiến hành thì vào đầu năm 1771, một cận thần của Mạc Thiên Tứ tên Phạm Lam nổi lên làm phản. Phạm Lam kết hợp với hai cướp biển Trần Thái (Vinhly Malu, người Mã Lai) và Hoắc Nhiên (Hoc Nha Ku, người Khmer) lập đảng gồm 800 người và 15 tàu thuyền tiến vào Hà Tiên nhưng bị Mạc Thiên Tứ đánh bại.
Giữa năm 1771, nhận thấy những đám cướp biển không đánh lại Mạc Thiên Tứ, Trình Quốc Anh đích thân mang đại binh gồm 20.000 người tiến chiếm Hà Tiên với sự chỉ điểm của Trần Liên. Trình Quốc Anh thiêu rụi thành phố, chiếm tất cả các đảo lớn nhỏ quanh Hà Tiên, mang về rất nhiều vàng bạc. Con cháu, hầu thiếp và người con gái út của Mạc Thiên Tứ bị Trình Quốc Anh bắt sống đem về Bangkok. Mạc Thiên Tứ cùng các con trai phải rút về Rạch Giá, cho người về Gia Định cầu cứu chúa Nguyễn.
Năm 1772, chúa Nguyễn mang 10.000 quân cùng 300 chiến thuyền sang Chân Lạp đánh quân Xiêm và đưa Nặc Ông Tôn lên ngôi. Trình Quốc Anh làm áp lực tại Hà Tiên buộc quân Việt phải dừng chân tại Nam Vang không được tiến xa hơn. Sau cùng hai bên đi đến một thỏa thuận để quân Xiêm rút khỏi Hà Tiên : chúa Nguyễn rút quân khỏi Chân Lạp và chấp nhận để Nặc Ông Nôn (Ang Non III), người được vua Xiêm chỉ định, lên ngôi vua. Năm sau (1773) Trình Quốc Anh rút quân khỏi Hà Tiên, Phú Quốc và Hòn Đất, trả lại người con gái bị bắt làm tù binh cho Mạc Thiên Tứ, nhưng buộc phải giao hoàng tử Chiêu Thúy cho quân Xiêm. Chiêu Thúy bị Trình Quốc Anh mang về Bangkok hành quyết.
Hà Tiên sống lại thời yên bình. Năm 1774, Bá Đa Lộc trở về Hòn Đất thành lập họ đạo, năm sau ông được Mặc Thiên Tứ tiếp đãi trọng hậu và cho phép đi giảng đạo khắp Hà Tiên.


Thứ Năm, 4 tháng 7, 2019

Bát cháo hành của Thị Nở

Mọi người hầu như ai cũng biết câu chuyện về bát cháo hành của Thị Nở, nấu cho một gã "trôi sông lạc chợ" giang hồ như Chí Phèo ăn, khiến tay anh chị này tự nhiên cảm động, nảy ra ý định muốn hoàn lương, chấm dứt cuộc đời rạch mặt ăn vạ trước kia của mình. Tình yêu của một cặp "trời đánh" là Thị Nở - Chí Phèo cũng nảy sinh từ đó.

Liên tưởng tới vụ Chí Phèo đủ rồi, giờ Yun kể câu chuyện của Yun nè. Trước khi kể, Yun phải nhấn mạnh là câu chuyện của Yun không liên can gì tới tình yêu đâu nha, chỉ là câu chuyện của Yun có liên can tới đồ ăn nên Yun ví von tới Thị Nở thoai. Và Yun cũng khẳng định mình không có rạch mặt ăn vạ như Chí, sư đệ Yun cũng không xấu ma chê quỷ hờn như Thị, mà em ấy là một người thông minh tài hoa đó nha.

Số là buổi sáng vừa dạy xong tính đi nấu cơm thì được tặng luôn đồ ăn trưa là tô bún mắm do chính tay sư đệ nấu chứ không phải đồ hàng chợ nha, chưa ăn mà mùi thơm nức mũi luôn á. Tô bún đủ vị các loại hải sản và thịt cá đến rau sống. Nước dùng vừa miệng đậm đà và thơm. Chấm điểm 10 luôn. Trân trọng những món quà ý nghĩa này, hạnh phúc nhất là có người nấu cho ăn, mà nấu ngon nữa thì thôi rồi...Cảm thấy em ấy đáng yêu đến nghẹn ngào, con trai mà khéo quá. Phải chi Yun có đứa em gái nào thì bắt gả ngay cho đệ ấy mới thôi. Còn không cho Yun trẻ lại 10 tuổi Yun cũng đi cưa đệ ấy à, kakakaka.

Chỉ là bún mắm thôi. Đâu cần hấp dẫn dữ vậy?
When my junior gives me a delicious lunch. I just know that too much happiness also can attack your heart and make you die easily.

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2019

Ngộ Không

(sưu tầm)
Tôn Ngộ Không (phồn thể: 孫悟空; giản thể: 孙悟空; bính âm: Sūn Wùkōng; Wade-Giles: Sun Wu-k'ung), còn gọi là Tề Thiên Đại Thánh (齊天大聖) hay Tề Thiên (齊天), là nhân vật chính trong tiểu thuyết Tây du ký, nhân vật giả tưởng có thể được xem là nổi tiếng nhất trong văn học Trung Hoa. Tôn Ngộ Không là một pháp sư, nhà sư, thánh nhân, chiến binh và là một vị phật, có hình thể là một con khỉ, nhân vật được phỏng theo truyện dân gian từ thời nhà Đường. Tây Du Ký thuật lại cuộc phiêu lưu của Tôn Ngộ Không từ lúc mới sinh ra, đặc biệt là chuyện Tôn Ngộ Không theo làm đệ tử của Tam Tạng để thỉnh kinh tại Tây Thiên (Ấn Độ)
Để hiểu sâu rộng hơn mời các bạn cùng tìm hiểu truyện Tây du ký và các nhân vật được Ngài Ngô Thừa Ân, Vị Thiền sư gia, Đạo diễn, minh họa đầy hàm ý, ẩn ý về lý nhân quả, lý vô thường, chuyện lành, dữ trong tam giới, một đời người mê, tỉnh, không ngộ , ngộ không chỉ ở nơi tâm, tánh nhận ra...

Ngài Ngô Thừa Ân, là một vị Thiền gia đạt được lý Thiền tông, nên mới minh họa Ngài Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh ở Tây Thiên Trúc có hàm ý như sau:
Sự thật, Ngài Trần Huyền Trang đi học đại học Phật giáo tại trường đại học Phật giáo ở nước Ấn Độ. Ban Giảng sư ở trường đại học Phật giáo này thấy Ngài hiểu sâu về Thiền học, nên nhận Ngài làm Giảng sư ở đó 11 năm; chứ không phải như cốt truyện trong truyện “Tây Du Ký” thường chiếu trong truyền hình.
Ý nghĩa sâu xa của truyện Tây Du Ký mà Ngài Ngô Thừa Ân muốn nói môn Thiền tông học này, chúng ta phải hiểu căn bản trong phim Tây Du Ký như sau:
1- Trần Huyền Trang: Đây là tên trong phim, chứ Ngài tên thật là Trần Huyền Tráng. Pháp danh trong đạo Phật là Tam tạng, tức ba kho chứa, được gọi là Tiểu thừa, Đại thừa và Tối Thượng thừa, hay gọi là Phật thừa. Cũng có ý nghĩa: Phật, Pháp, Tăng bên ngoài hay bên trong của một con người.
Tổng thể một con người có đầy đủ ba kho báu ấy.
2- Hầu vương: (Vua khỉ, tức cái trí lăng xăng của chúng ta ví như con khỉ, thích chạy nhảy, nhưng trong cái chạy nhảy đó, có cái Phật tánh là thấy, nghe, biết, pháp rất sáng suốt.
3- Trư Bát Giới: (Tám giới cấm trong Nhà Phật. Người tu chân chánh theo đạo Phật, phải triệt để giữ gìn tám giới như: 1- Tham, 2- Sân, 3- Si, 4- Mạng, 5- Nghi, 6- Ác, 7- Kiến thường, 8- Kiến đoạn). Tượng trưng cho: Ham ăn, mê ngủ, lười biếng, thích dục lạc, hay nói những việc không phải là sự thật, cũng gọi là nói bừa, v.v…
4- Ngộ Tịnh: (Dụng công tu để tu cho đạt dược tánh thanh tịnh của chính mình): Tượng trưng cho: Lao động, siêng năng, cần cù, chân thật, niêm mật, tu hành, v.v…
Trong phim này, Tam Tạng coi là vai chánh, chứ sự thật, cốt truyện này là nói đến cuộc đời của một hành giả tu theo Thiền tông đạo Phật, từ lúc sanh ra, tu hành đến quả vị Phật, vai chánh chính là Hầu vương.
Ý nghĩa sâu xa của cuộc đời Hầu vương như sau:
Thứ nhất:
Hình thành một con người:
– Hầu vương, ban đầu sanh ra bởi:
Ngũ Hành:
– Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ.
Hay:
– Đất – Nước – Gió – Lửa – Thức.
Thứ hai:
Hầu vương đi tìm học kiến thức và tu đạt được lý không (Ngộ Không).
Tầm sư học đạo: Ngài tìm học với ông Tu Bồ Đề; ông Tu Bồ Đề là đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ý muốn nói, từ cái căn bản chánh là Pháp thân thanh tịnh (tức Phật tánh). Hầu vương tìm học hỏi ở Phật tánh thanh tịnh sáng suốt của chính mình, Hầu vương đã học được một phần nhỏ của những gì trong Phật tánh của chính mình, mà đã dụng công được, như: Thăng thiên, độn thổ, cỡi mây, nương gió, v.v… Nên Hầu vương được Ngài Tu Bồ Đề đặt cho cái tên là “Tôn Ngộ Không”, (suy tôn người tu hành, đạt được lý không).
Theo Nhà Phật, đây là người dụng công tu, được xếp vào hàng Tiểu thừa, cũng gọi là tu theo Nhị thừa (tức còn chấp Có và chấp Không).
Thứ ba: Kiến chấp cao tột và trùm khắp:
Hầu vương thấy mình có chút đỉnh thần thông, coi mình (Ngã) là hơn hết, nên xem trong vũ trụ này không có bất cứ thứ gì, nên Tôn Ngộ Không phá đi luật tự nhiên của nhân quả, bằng cách:
– Lên Trời đập phá Thiên đường!
– Xuống Địa ngục xóa sổ sanh tử!
Vì Tôn Ngộ Không mới tu hành đạt được “Lý Không”, chưa đạt được tột cùng của đạo, nên không thấu triệt được sự vận hành của Tam giới. Vì vậy, sau này mới lãnh hậu quả gớm ghê, tức bị nhân quả trong qui luật vật lý này!
Thứ tư: Kiến chấp có hoặc không dù còn thật nhỏ nhất:
Tôn Ngộ Không đã phá được Thiên đường, xóa được Địa ngục. Ý muốn nói, tâm người tu chấp không có Thiên đường, cũng không có Địa ngục, không phải, không quấy, không hơn, không thua, nghĩa là không có hai bên, v.v… Nhưng vẫn còn thấy mình có “Thấy và có Biết”.
Các cái hai bên ấy, tức còn một chút chấp Có và chấp Không, dù là nhỏ nhất. Vì còn thấy có một chút chấp đó, nên Tôn Ngộ Không nhảy vào lòng bàn tay của Phật Tổ Như Lai, bay xa tận cùng, cho là vượt qua tất cả. Nhưng Tôn Ngộ Không đã lầm. Vì chỗ lầm đó, nên Tôn Ngộ Không làm dấu ở đầu ngón tay của Phật Tổ, hay nói cho thật rõ, là còn một chút cái Có đó, nên không thể nào vượt ra ngoài Ngũ Hành của bản thân được.
Vì vậy, Phật Tổ Như Lai mới úp bàn tay xuống, tượng trưng cho Tôn Ngộ Không bị Ngũ Hành nhốt lại. Tôn Ngộ Không bị nhốt trong Ngũ Hành, dù có ăn uống như thế nào đi chăng nữa cũng là những thức ăn coi như cây khô lá chết mà thôi!
Giống như chúng ta sống trong ngũ hành của chúng ta,
dù chúng ta có ở nhà cao, cửa rộng, ăn sang, mặc đẹp, phương tiện hơn người, v.v…
Đối với người nhận ra được lý Thiền tông và sống trong ấy, coi những thứ vật chất ở thế giới là cái nhà nhốt chúng ta, còn những thức ăn là những thứ nhân quả của vật chất vậy!
Thứ năm: Tôn Ngộ Không bị nhốt trong Ngũ Hành Sơn 500 năm! Đây là con số của Ngài Ngô Thừa Ân đặt ra, ẩn ý là Tôn Ngộ Không sống trong ngũ uẩn, tượng trưng cho con số 500. Xét ra rất hay, để nói lên nếu chúng ta không biết được sự thật thì chúng ta bị ngũ hành nhốt mãi mãi, dù dùng con số tỷ năm cũng chưa đúng chớ đừng nói chi là số năm!
Không biết, chúng ta “chui vào” trong tam giới này bao lâu, và bị ngũ uẩn nhốt ta từ thuở nào? Nếu chúng ta đã biết được ngũ uẩn là không thật, chắc chắn chúng ta sẽ “chui ra” khỏi ngũ uẩn một cách hết sức dễ dàng.
Hầu hết chúng ta là môn đồ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà còn không biết. Thử hỏi, ở trên trái đất này có mấy người biết được ngũ uẩn là không thật! Ngũ uẩn còn không biết thì làm sao biết được Phật tánh?
Vì không biết được Phật tánh, nên chúng ta bị người khác lừa mình từ vô lượng kiếp đến nay!
Thứ sáu: Tôn Ngộ Không, nhận ra Tánh Chân Không:
Suốt một thời gian dài sống trong Ngũ Hành Sơn. Nhờ sự dẫn dắt của Bồ tát Quán Thế Âm (Bồ tát Quán Thế Âm là tượng trưng cho tiếng nghe của Nhĩ căn). Tôn Ngộ Không mới nghe được bằng tánh Nghe tự nhiên thanh tịnh của chính mình. Nhờ vậy, Tôn Ngộ Không mới giác ngộ, rõ ràng tánh Nghe chân thật của chính mình.
Nhờ giác ngộ được rõ ràng của tánh Nghe, Tôn Ngộ không mới hiểu được 2 căn bản như sau:
1- Trong tam giới là do nhân duyên và nhân quả điều hành theo qui luật sinh diệt luân hồi.
2- Trong Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh, là nơi không sanh diệt.
Vì sao không sinh diệt?
– Vì là thanh tịnh.
Tuy là thanh tịnh nhưng vẫn có sự sống.
Có sự sống làm sao thanh tịnh được?
– Vì sự sống này là do Điện Từ Quang duy trì; Điện Từ Quang này là loại điện từ chỉ có rung động tự nhiên, chứ không có lục hút Âm Dương.
Đến đây, Tôn Ngộ Không mới nhận ra năm uẩn nhốt mình là không thật, tức Ngũ uẩn giai không, nên Tôn Ngộ Không mới phá bỏ được Ngũ Hành Sơn, tung bay trong bầu trời tự do. Lúc này Hầu vương mới chính thức được mang tên Tôn Hành Giả, tức người tu hành chân chánh.
Ở thế gian này, ai thấy ngũ uẩn mình là không thật, người đó mới chính thức là người chân tu theo Nhà Phật, còn ai không thấy được vậy, chỉ là người mang lớp áo tu theo Nhà Phật để kiếm tiền sinh nhai mà thôi!
Vì đã nhận ra tánh Biết chân thật của chính mình, nên Tôn Ngộ Không biết được tự nhiên trùm khắp. Nhờ vậy, cái gì là giả, cái gì là thật, Y đều biết được tất cả, dù là vô hình hay là hữu hình.
Còn người sử dụng trí học hỏi của thế giới này, dù có học cao tột đến đâu, cũng không thể hiểu và biết được như cái Biết thanh tịnh của Phật tánh được.
Cái Biết thanh tịnh ấy:
– Người tu hành niêm mật và hiểu bình thường như sư phụ Trần Huyền Trang, không thể nào biết được. Dù sư phụ có dụng công ngồi thiền suốt 5, 7, ngày liền! Quên ăn, quên ngủ, vua, quan kính nể, vang danh khắp trong thiên hạ, cũng không thể biết như cái Biết của Phật tánh thanh tịnh được!
Cái Biết thanh tịnh ấy:
– Người tu hành lười biếng, như Trư Bát Giới: Ham ăn, mê ngủ, ham đủ thứ dục lạc ở thế gian này, cũng không thể biết như cái Biết thanh tịnh của Phật tánh được!
Cái Biết thanh tịnh ấy:
Người tu hành cần cù như Trương Ngộ Tịnh, siêng năng, chăm chỉ, không bỏ sót thứ gì, dù là một việc nhỏ nhất, không biết mệt mỏi, cũng không thể biết, như cái Biết thanh tịnh của Phật tánh được!
Nói tóm lại:
– Ba hạng người tu hành như nói trên, họ không thể nào biết được cái Biết thanh tịnh của Phật tánh.
Bởi vậy, ở hội của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, về phần Tăng, Ni, tu trên 500 vị, còn phật tử cả mấy ngàn người, họ đến tu với Ngũ Tổ, vì nghe Ngũ Tổ được truyền Y và Bát của Đức Phật dùng hằng ngày, họ đến với Ngũ Tổ là vì cái “Danh”, chứ không phải đến để tìm Phật tánh thanh tịnh của chính họ!
Do đó, khi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn muốn truyền Thiền tông lại cho ai nhận ra Phật tánh thanh tịnh của chính họ, để Tổ truyền Thiền tông lại.
Thượng tọa Thần Tú là một vị Giáo thọ sư, dạy Tăng lẫn Ni và phật tử, thế mà Thượng tọa Thần Tú không hiểu Thiền tông học là gì?
Thượng tọa Thần Tú đến học đạo với Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, cũng vì “Danh”, vì chức làm thầy thiên hạ, chứ không phải học để giác ngộ!
Vì vậy, khi Ngũ Tổ bảo toàn thể Tăng và Chúng làm kệ, để xem coi có ai biết được Phật tánh của chính mình không, nếu ai nhận rõ Phật tánh của chính mình, thì Ngũ Tổ sẽ truyền Thiền tông cho để làm Tổ sư Thiền tông kế tiếp.
Ở hội Ngũ Tổ, có Thượng tọa Thần Tú được coi là vị hiểu đạo cao nhất, trên là Ngũ Tổ, dưới là Ngài, nhưng khi làm kệ để trình bày “Tánh Phật” của chính Ngài, Ngài mù mịt!
Một vị chức cao tột đỉnh như vậy, mà không biết Phật tánh là gì, thì những người tu hồi đó họ làm sao biết được?
Những người thời đó họ đến với Ngũ Tổ cũng vì “Danh” của Ngài thôi!
Còn các người đi tìm học đạo ngày nay, cũng không khác gì người xưa.
Vì vậy, đạo tràng ngày nay có rất nhiều người đến học, mà học một thời gian rất dài, mà cũng chưa thấy có ai giác ngộ cả, thì làm sao giải thoát?
Vì sao vậy?
– Vì chính ông Thầy đứng ra giảng nói, vị Thầy ấy còn chưa biết được tánh Người chứ đừng nói chi là tánh Phật.
Xin nói thêm về Thiền tông học này:
– Khi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn tịch, Thượng tọa Thần Tú được đức vua Võ Tắc Thiên mời về triều đình làm Quốc sư. Vua Võ Tắc Thiên là người hiểu rất thông Thiền tông học.
Đức vua có hỏi Quốc sư Thần Tú:
– Khi còn sanh tiền, Đức Ngũ Tổ có dạy đạo“Nhất thừa”, vậy Quốc sư hãy nói đạo ý nghĩa đạo Nhất thừa cho Trẫm nghe thử?
Ý đức vua Võ Tắc Thiên lấy câu truyện trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa về xe trâu trắng mà Đức Phật dạy như sau:
Nhất thừa là cỗ xe trâu.
Đổ đi sanh tử, còn đâu luân hồi
Bạch ngưu hiện rõ ra rồi
Luân hồi sinh tử là “Thôi” với mình.
Còn Thiền tông, các vị Tổ sư thiền có dạy:
Thiền tông là “Nhất tự thiền”
Đưa người thanh tịnh về miền quê xưa
“Nhất tự” không dụng sớm trưa
“Buông, Dừng, Thôi, Dứt” quê xưa thấy liền.
Đạo “Một chữ” Quốc sư Thần Tú không biết, nên vua Võ Tắt Thiên hỏi thêm câu thứ hai:
– Nay Trẫm đã già, mắc phải bệnh của người lớn tuổi, trong thiên hạ, nhiều người bảo: Nếu biết uống trà đạo sẽ trị được bệnh thân và bệnh tâm, vậy Quốc sư có thể chỉ cho Trẫm được không?
Câu hỏi đạo “Nhất thừa” Quốc sư Thần Tú không trả lời được, lại bị câu hỏi thứ hai, quốc sư Thần Tú đành thưa với vua Võ Tắc Thiên:
– Về chỗ sâu mầu này, thật tình Thần không hiểu, kính xin Bệ hạ cử người về phương Nam hỏi Lục Tổ Huệ Năng ắt sẽ rõ.
Đức vua, sai ông Tiết Giản về phương Nam hỏi Đức Lục Tổ. Đức Lục Tổ Huệ Năng không giảng dạy mà chỉ đọc có 9 chữ để ông Tiết Giản ghi, đem về trình lên vua Võ Tắt Thiên. Chín chữ ấy như sau:
– Không trà, không tâm, biết uống là hết bệnh!
Ông Tiết Giản về triều tâu trình lên vua Võ Tắt Thiên. Đọc xong thư, đức vua biết cách uống trà đạo để trị bệnh thân và bệnh tâm, liền xuất khẩu thành bài thơ bốn câu:
– Tay bưng lấy một tách trà
– Trà vừa vô miệng hết đà bệnh tâm
– Ơn Thầy chỉ dạy rất thâm
– Nhờ vậy, Trẫm thấy bệnh thân không còn.
Bốn câu thơ nói trên, là bốn câu thơ đã nói lên Nhà vua ngộ được lý Thiền tông, chứ không phải tầm thường. Cũng nhờ chín chữ ấy, vua Võ Tắt Thiên đã nhận ra Phật tánh của chính mình và sống với Phật tánh ấy. Nhờ vậy, khi đến 80 tuổi, vua ngồi kiết già rồi thị tịch tự bỏ xác thân mình. Người sống được trong Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh mới có khả năng này.
Xin nhấn mạnh về chín chữ mà Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy vua Võ Tắt Thiên:
“Không trà, không tâm, biết uống là hết bệnh!”
Đức vua nhận ra chỗ thâm sâu này, tức khắc nhận ra được Phật tánh Thanh tịnh của chính Ngài. Lúc này, câu “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, mà trong Bát Nhã Tâm Kinh thường lặp đi lặp lại, trước kia Nhà vua mờ mịt, nay đã hiện rõ nghĩa chân thật, như dưới ánh sáng ban ngày, đồng nghĩa Nhà vua nhận ra được Phật tánh chân thật của chính Ngài rõ ràng thanh tịnh; không phải là cái tâm lăng xăng của vật lý, còn sự học hỏi của tâm vật lý và xác thân tứ đại của Nhà vua chỉ là của sinh diệt luân hồi. Hai thứ này, Nhà vua biết cách tách rời ra nên tự bỏ xác thân một cách rất dễ dàng và hòa nhập vào Niết bàn Thanh tịnh của Mười Phương Chư Phật.
Khi đức vua ngộ được lý Thiền tông qua chín chữ dạy của Đức Lục Tổ Huệ Năng, đức vua Võ Tắc Thiên có Sắc Chỉ cám ơn Đức Lục Tổ Huệ Năng, với các lời văn kệ như sau:
– Sở dĩ, suốt đời làm vua của Trẫm được trên thuận dưới hòa, giải quyết được tất cả công việc nước, dù có khó đến đâu, cũng được vượt qua. Đó là Trẫm nhờ ân đức lớn: Trong nước của Trẫm có vị tu hành đạt đạo. Hôm nay, Trẫm mới biết, người đạt được đạo ấy chính là Thầy. Nhờ lời dạy của Thầy, Trẫm đã nhận ra Bản Lai Diện Mục của chính mình và sống được với Bản Lai Diện Mục ấy. Để đáp lại công ơn trời biển của Thầy, nay Trẫm có Sắc Kệ bốn câu, kính dâng lên Thầy. Trước, cám ơn Thầy, sau, là trình kiến giải của Trẫm đã nhận ra được chỗ thâm sâu mà Chư Phật đã dạy, mong Thầy chứng minh.
Sắc Kệ rằng:
– Lời dạy của Phật rất cao sâu
– Tỷ đời triệu kiếp con tìm cầu
– Hôm nay nghe được lời Thầy dạy
– Rõ nghĩa Như Lai rất nhiệm mầu!
Đức Lục Tổ nhận và ấn chứng cho vua Võ Tắc Thiên đã triệt ngộ được “Bí mật Thiền tông”. Nên bài Sắc Kệ này được công bố khắp trong nước. Vì vậy, tất cả các chùa trước khi khai kinh tụng đều lấy bài kệ của vua Võ Tắc Thiên tụng để khai kinh.
Sắc Kệ này có 28 chữ, ban đầu các chùa tụng đúng nguyên bản gốc. Dần dần về sau này, tụng lệch đi sáu (6) chữ, nên làm mất đi ý nghĩa chánh của bài kệ khai kinh. Bài kệ của vua Võ Tắc Thiên là trình kiến giải về đạt “Bí mật Thiền tông” và được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” của chính bà.
Còn bài kệ hiện nay các chùa đang tụng để khai kinh, là bài kệ cầu nguyện mong đạt được ý sâu mầu lời của Đức Phật dạy, thật là đáng tiếc!
Vì sao có sự sai lệch này?
Vì người sau này dịch kệ thiền mà họ không giác ngộ “Yếu chỉ Thiển tông” là phải sai! Tất cả kệ thiền hay kinh nói về thiền, ẩn chứa ý sâu mầu trong từng chữ, từng câu, không thể thêm hay bớt một chữ hay một nét nào được! Nếu đem cái tri thức suy ngẫm của học thức mà giải về thiền học, thì chắc chắn phải bị sai!
Người ngộ thiền giống như người trước kia bị mù mà nay được sáng mắt. Còn người dịch kinh hay kệ thiền mà chưa ngộ thiền, giống như người còn đang mù mắt, nương theo cái suy nghĩ của học thức của mình mà dịch kinh hay kệ thì giải làm sao đúng được!
Xin nhấn mạnh thêm:
Người muốn dịch kinh hay kệ thiền, ít nhất người đó phải giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”; chứ không giác ngộ Yếu chỉ Thiền tông mà dịch kinh hay kệ thiền, là phải mang lỗi với người xưa và với người nghiên cứu, tụng hay đọc! Hai lỗi ấy, Đức Phật và các vị Tổ sư Thiền tông không chấp nhận!
Đó là việc của quá khứ!
Còn hiện tại, ở nước Việt Nam chúng ta, nếu vị nào quyết chí tu theo đạo Phật để được giác ngộ và tìm đường giải thoát, thì hãy tìm cho được một vị Thiện tri thức, đã đạt được “Bí mật Thiền tông”, nhờ vị ấy giúp đở thì người tu mới mong thành công được. Còn không tìm được vị này, dù chúng ta có đi nghe người chưa biết Thiền tông học là gì, dù chúng ta có nghe họ giảng 100 năm cũng không khi nào giác ngộ, chứ đừng nói chi giải thoát.
Xin mách người đạt được “Bí mật Thiền tông”:
Người đạt được “Bí mật Thiền tông”, vị này không khi nào đứng trước đông người nói, mà vị này chỉ cần nhìn người đối diện nói chỉ 1 câu, là vị này biết người đối diện có muốn tu giải thoát hay không, tự vị này nói cho người đối diện biết.
Thứ bảy: Hầu vương, trở thành là một hành giả.
Đây mới bắt đầu chính thức là một vị chân tu. Vì là chân tu nên biết tất cả những hư, ngụy, chánh, tà, v.v… Vì vậy, trên con đường đi của Hầu vương không sự việc gì qua mắt được Hầu vương cả, còn người dụng công niêm mật như sư phụ Trần Huyền Trang, chểnh mảng như Trư Bát Giới hay cần cù như Trương Ngộ Tịnh, cũng không sao biết được sự thật của một người tu theo đạo giải thoát! Không biết đường đi của đạo giải thoát. Dù có tu trải qua một ngàn đời đi chăng nữa, cũng phải lầm lủi đi trong sáu nẻo luân hồi không ngày cùng!
Vì chỗ này mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy: “Dù các ông có ngồi Đạo Tràng dụng công tu thiền 10 tiểu kiếp, Phật tánh của các ông cũng không thể nào hiển lộ ra được!”
Thứ tám: Thân cận Như Lai (tức Phật tánh):
Khi Hầu vương tiếp cận được Đức Phật rồi (chỉ tiếp cận thôi chứ không phải vào được nhà của Như Lai). Tới đây, không một lời nào để nói, ví là kinh Vô tự. Khi bước vào Nhà Như Lai thì không thể nói một lời nào cả, mà chỉ thấy vậy, hiểu vậy, biết như vậy thôi, v.v… Cái hay Thấy và cái hay Biết, lúc nào cũng trong sáng, thanh tịnh và trùm khắp, diệu dụng, đầy đủ, v.v…
Đến đây trong Huyền ký Đức Phật có dạy như sau:
– Khi các ông đã vào được Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh rồi, thì những việc trong Phật tánh để Phật làm mà thôi, vì chỗ đó Đức Phật có dạy 4 câu:
Trí thế ông dẹp được rồi
Những thứ trong Tánh, Phật làm mà thôi
Vào đây bị mất cái Tôi
Pháp Thân Thanh tịnh hiện rồi với “Ta”.
Khi vị nào có đại phúc được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” thì không thể nào sử dụng ngôn từ của thế giới này được. Vì vậy, chúng ta mới biết tại sao khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi thành đạo, Ngài không muốn nói, vì Ngài thấy mọi sự vật trên đời này đều khác hẳn với mọi sự Thấy và Biết của Ngài trước khi chưa thành đạo.
Ngài thấy, từ vô hình hay hữu hình đều vận hành rất trật tự, công bằng, rất nhịp nhàng, không sai sót, đầy đủ khắp trong vũ trụ này! Không thể dùng lời nói của con người mà diễn tả được. Có nghĩa, mọi sự Thấy và Biết của con người sống trên thế giới này đều bị đảo lộn tất cả! Nên Ngài không nói được! Vì vậy, đến chỗ này, được coi là vô ngôn, tức kinh vô tự. Đến đây, chúng ta mới giải mã những bí ẩn của các Thiền sư.
Có ai hỏi các Ngài:
– Thế nào là Phật tánh hay chân tâm của con?
Các Ngài không trả lời, mà đánh một gậy hay hét một tiếng lớn, hoặc đạp cho một đạp là đã trả lời cho người hỏi rồi. Nếu ai lanh lợi sẽ nhận ra câu trả lời, còn khởi vọng tìm ý nghĩa lời nói thì mờ mịt!
Chính chỗ này, hiện giờ các vị Giảng sư dùng trí óc học cao của chính mình để giảng, thì làm sao giảng đúng được. Vì chỗ bí ẩn này, chỉ một chữ Phật họ còn không biết, thì làm sao họ biết toàn bộ những gì trong “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” mà họ giảng?
Thứ chín: Vì muốn cho mọi người hiểu, nên Hầu vương phải thỉnh kinh có chữ để trợ giúp cho mọi người thấu hiểu. Nương theo 12 bộ kinh Đại thừa. Nương theo những pháp quán, tưởng, hay tìm kiếm để lần lần trở về nguồn cội của chính mình mà trong Nhà Phật gọi là trở về với “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” mà không phải vượt qua các thứ lớp tu hành.
Thứ mười: Trở về cố hương.
Mục thứ mười này, đây là mục kết thúc một đời trầm luân của một hành giả tu theo pháp môn Thiền tông đạo Phật. Chỉ có tu theo pháp môn Thiền tông mới trở về cố hương được. Chứ tu theo các pháp môn khác, dù phải trải qua không biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, từ sai lầm này, đến sai lầm nọ. Từng ở các cõi Trời hưởng phúc. Từng ở các tầng Địa ngục để chịu những hình phạt gớm ghê. Từng làm vua ở nhân gian, từng làm chúa ở các cõi Trời, ăn trên ngồi trước. Hay từng làm kẻ bần cùng hèn hạ, từng làm Ngạ qủy, Súc sanh, làm Thần làm Thánh, để mê hoặc người khác… Sau cùng, cũng phải tu theo pháp môn Thiền tông, mới trở về cố hương được, đến đây mới kết thúc một chúng sanh bị đi trong lục đạo luân hồi!
Nói tóm lại:
Truyện Tây Du Ký, là diễn tả một con người từ khi mới sanh ra, làm tất cả những chuyện lành, dữ ở trong tam giới này, chứ không phải là một cốt truyện có phép mầu mà từ người trẻ, đến người lớn đều hiểu lầm. Cái lầm lẫn rất lâu, không ai giải thích ý sâu mầu chân thật cái ý của Ngài Ngô Thừa Ân muốn chỉ.
Nay chúng tôi xin giải mã, phơi bày ẩn ý cốt truyện “Tây Du Ký” này, mong được nhiều người hiểu và hiểu thật rõ ràng, để đáp lại lời hay ý đẹp mà Ngài Ngô Thừa Ân đã muốn chỉ cho chúng ta.
Kính mong những ai có duyên đọc được quyển sách nhỏ này, nhận ra ẩn ý của Ngài Ngô Thừa Ân và đạt được những sự chỉ giáo ấy, để chúng ta trở về cố hương của chính mình, ở trên đời này không gì quý bằng vậy!
Trích quyển “Hành đúng lời Phật dạy chắc chắn Giải thoát”