Chào mừng bạn đến thăm nhà tôi!

This website is updated with the latest news about me and belongs to me.
If you want to use my articles, please contact me :)
Everyone has some secrets they cannot share. Please be a polite reader.
Don't be too curious about things that are none of your business! A million thanks!!!



Hiển thị các bài đăng có nhãn Góc tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Góc tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2019

Ngộ Không

(sưu tầm)
Tôn Ngộ Không (phồn thể: 孫悟空; giản thể: 孙悟空; bính âm: Sūn Wùkōng; Wade-Giles: Sun Wu-k'ung), còn gọi là Tề Thiên Đại Thánh (齊天大聖) hay Tề Thiên (齊天), là nhân vật chính trong tiểu thuyết Tây du ký, nhân vật giả tưởng có thể được xem là nổi tiếng nhất trong văn học Trung Hoa. Tôn Ngộ Không là một pháp sư, nhà sư, thánh nhân, chiến binh và là một vị phật, có hình thể là một con khỉ, nhân vật được phỏng theo truyện dân gian từ thời nhà Đường. Tây Du Ký thuật lại cuộc phiêu lưu của Tôn Ngộ Không từ lúc mới sinh ra, đặc biệt là chuyện Tôn Ngộ Không theo làm đệ tử của Tam Tạng để thỉnh kinh tại Tây Thiên (Ấn Độ)
Để hiểu sâu rộng hơn mời các bạn cùng tìm hiểu truyện Tây du ký và các nhân vật được Ngài Ngô Thừa Ân, Vị Thiền sư gia, Đạo diễn, minh họa đầy hàm ý, ẩn ý về lý nhân quả, lý vô thường, chuyện lành, dữ trong tam giới, một đời người mê, tỉnh, không ngộ , ngộ không chỉ ở nơi tâm, tánh nhận ra...

Ngài Ngô Thừa Ân, là một vị Thiền gia đạt được lý Thiền tông, nên mới minh họa Ngài Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh ở Tây Thiên Trúc có hàm ý như sau:
Sự thật, Ngài Trần Huyền Trang đi học đại học Phật giáo tại trường đại học Phật giáo ở nước Ấn Độ. Ban Giảng sư ở trường đại học Phật giáo này thấy Ngài hiểu sâu về Thiền học, nên nhận Ngài làm Giảng sư ở đó 11 năm; chứ không phải như cốt truyện trong truyện “Tây Du Ký” thường chiếu trong truyền hình.
Ý nghĩa sâu xa của truyện Tây Du Ký mà Ngài Ngô Thừa Ân muốn nói môn Thiền tông học này, chúng ta phải hiểu căn bản trong phim Tây Du Ký như sau:
1- Trần Huyền Trang: Đây là tên trong phim, chứ Ngài tên thật là Trần Huyền Tráng. Pháp danh trong đạo Phật là Tam tạng, tức ba kho chứa, được gọi là Tiểu thừa, Đại thừa và Tối Thượng thừa, hay gọi là Phật thừa. Cũng có ý nghĩa: Phật, Pháp, Tăng bên ngoài hay bên trong của một con người.
Tổng thể một con người có đầy đủ ba kho báu ấy.
2- Hầu vương: (Vua khỉ, tức cái trí lăng xăng của chúng ta ví như con khỉ, thích chạy nhảy, nhưng trong cái chạy nhảy đó, có cái Phật tánh là thấy, nghe, biết, pháp rất sáng suốt.
3- Trư Bát Giới: (Tám giới cấm trong Nhà Phật. Người tu chân chánh theo đạo Phật, phải triệt để giữ gìn tám giới như: 1- Tham, 2- Sân, 3- Si, 4- Mạng, 5- Nghi, 6- Ác, 7- Kiến thường, 8- Kiến đoạn). Tượng trưng cho: Ham ăn, mê ngủ, lười biếng, thích dục lạc, hay nói những việc không phải là sự thật, cũng gọi là nói bừa, v.v…
4- Ngộ Tịnh: (Dụng công tu để tu cho đạt dược tánh thanh tịnh của chính mình): Tượng trưng cho: Lao động, siêng năng, cần cù, chân thật, niêm mật, tu hành, v.v…
Trong phim này, Tam Tạng coi là vai chánh, chứ sự thật, cốt truyện này là nói đến cuộc đời của một hành giả tu theo Thiền tông đạo Phật, từ lúc sanh ra, tu hành đến quả vị Phật, vai chánh chính là Hầu vương.
Ý nghĩa sâu xa của cuộc đời Hầu vương như sau:
Thứ nhất:
Hình thành một con người:
– Hầu vương, ban đầu sanh ra bởi:
Ngũ Hành:
– Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ.
Hay:
– Đất – Nước – Gió – Lửa – Thức.
Thứ hai:
Hầu vương đi tìm học kiến thức và tu đạt được lý không (Ngộ Không).
Tầm sư học đạo: Ngài tìm học với ông Tu Bồ Đề; ông Tu Bồ Đề là đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ý muốn nói, từ cái căn bản chánh là Pháp thân thanh tịnh (tức Phật tánh). Hầu vương tìm học hỏi ở Phật tánh thanh tịnh sáng suốt của chính mình, Hầu vương đã học được một phần nhỏ của những gì trong Phật tánh của chính mình, mà đã dụng công được, như: Thăng thiên, độn thổ, cỡi mây, nương gió, v.v… Nên Hầu vương được Ngài Tu Bồ Đề đặt cho cái tên là “Tôn Ngộ Không”, (suy tôn người tu hành, đạt được lý không).
Theo Nhà Phật, đây là người dụng công tu, được xếp vào hàng Tiểu thừa, cũng gọi là tu theo Nhị thừa (tức còn chấp Có và chấp Không).
Thứ ba: Kiến chấp cao tột và trùm khắp:
Hầu vương thấy mình có chút đỉnh thần thông, coi mình (Ngã) là hơn hết, nên xem trong vũ trụ này không có bất cứ thứ gì, nên Tôn Ngộ Không phá đi luật tự nhiên của nhân quả, bằng cách:
– Lên Trời đập phá Thiên đường!
– Xuống Địa ngục xóa sổ sanh tử!
Vì Tôn Ngộ Không mới tu hành đạt được “Lý Không”, chưa đạt được tột cùng của đạo, nên không thấu triệt được sự vận hành của Tam giới. Vì vậy, sau này mới lãnh hậu quả gớm ghê, tức bị nhân quả trong qui luật vật lý này!
Thứ tư: Kiến chấp có hoặc không dù còn thật nhỏ nhất:
Tôn Ngộ Không đã phá được Thiên đường, xóa được Địa ngục. Ý muốn nói, tâm người tu chấp không có Thiên đường, cũng không có Địa ngục, không phải, không quấy, không hơn, không thua, nghĩa là không có hai bên, v.v… Nhưng vẫn còn thấy mình có “Thấy và có Biết”.
Các cái hai bên ấy, tức còn một chút chấp Có và chấp Không, dù là nhỏ nhất. Vì còn thấy có một chút chấp đó, nên Tôn Ngộ Không nhảy vào lòng bàn tay của Phật Tổ Như Lai, bay xa tận cùng, cho là vượt qua tất cả. Nhưng Tôn Ngộ Không đã lầm. Vì chỗ lầm đó, nên Tôn Ngộ Không làm dấu ở đầu ngón tay của Phật Tổ, hay nói cho thật rõ, là còn một chút cái Có đó, nên không thể nào vượt ra ngoài Ngũ Hành của bản thân được.
Vì vậy, Phật Tổ Như Lai mới úp bàn tay xuống, tượng trưng cho Tôn Ngộ Không bị Ngũ Hành nhốt lại. Tôn Ngộ Không bị nhốt trong Ngũ Hành, dù có ăn uống như thế nào đi chăng nữa cũng là những thức ăn coi như cây khô lá chết mà thôi!
Giống như chúng ta sống trong ngũ hành của chúng ta,
dù chúng ta có ở nhà cao, cửa rộng, ăn sang, mặc đẹp, phương tiện hơn người, v.v…
Đối với người nhận ra được lý Thiền tông và sống trong ấy, coi những thứ vật chất ở thế giới là cái nhà nhốt chúng ta, còn những thức ăn là những thứ nhân quả của vật chất vậy!
Thứ năm: Tôn Ngộ Không bị nhốt trong Ngũ Hành Sơn 500 năm! Đây là con số của Ngài Ngô Thừa Ân đặt ra, ẩn ý là Tôn Ngộ Không sống trong ngũ uẩn, tượng trưng cho con số 500. Xét ra rất hay, để nói lên nếu chúng ta không biết được sự thật thì chúng ta bị ngũ hành nhốt mãi mãi, dù dùng con số tỷ năm cũng chưa đúng chớ đừng nói chi là số năm!
Không biết, chúng ta “chui vào” trong tam giới này bao lâu, và bị ngũ uẩn nhốt ta từ thuở nào? Nếu chúng ta đã biết được ngũ uẩn là không thật, chắc chắn chúng ta sẽ “chui ra” khỏi ngũ uẩn một cách hết sức dễ dàng.
Hầu hết chúng ta là môn đồ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà còn không biết. Thử hỏi, ở trên trái đất này có mấy người biết được ngũ uẩn là không thật! Ngũ uẩn còn không biết thì làm sao biết được Phật tánh?
Vì không biết được Phật tánh, nên chúng ta bị người khác lừa mình từ vô lượng kiếp đến nay!
Thứ sáu: Tôn Ngộ Không, nhận ra Tánh Chân Không:
Suốt một thời gian dài sống trong Ngũ Hành Sơn. Nhờ sự dẫn dắt của Bồ tát Quán Thế Âm (Bồ tát Quán Thế Âm là tượng trưng cho tiếng nghe của Nhĩ căn). Tôn Ngộ Không mới nghe được bằng tánh Nghe tự nhiên thanh tịnh của chính mình. Nhờ vậy, Tôn Ngộ Không mới giác ngộ, rõ ràng tánh Nghe chân thật của chính mình.
Nhờ giác ngộ được rõ ràng của tánh Nghe, Tôn Ngộ không mới hiểu được 2 căn bản như sau:
1- Trong tam giới là do nhân duyên và nhân quả điều hành theo qui luật sinh diệt luân hồi.
2- Trong Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh, là nơi không sanh diệt.
Vì sao không sinh diệt?
– Vì là thanh tịnh.
Tuy là thanh tịnh nhưng vẫn có sự sống.
Có sự sống làm sao thanh tịnh được?
– Vì sự sống này là do Điện Từ Quang duy trì; Điện Từ Quang này là loại điện từ chỉ có rung động tự nhiên, chứ không có lục hút Âm Dương.
Đến đây, Tôn Ngộ Không mới nhận ra năm uẩn nhốt mình là không thật, tức Ngũ uẩn giai không, nên Tôn Ngộ Không mới phá bỏ được Ngũ Hành Sơn, tung bay trong bầu trời tự do. Lúc này Hầu vương mới chính thức được mang tên Tôn Hành Giả, tức người tu hành chân chánh.
Ở thế gian này, ai thấy ngũ uẩn mình là không thật, người đó mới chính thức là người chân tu theo Nhà Phật, còn ai không thấy được vậy, chỉ là người mang lớp áo tu theo Nhà Phật để kiếm tiền sinh nhai mà thôi!
Vì đã nhận ra tánh Biết chân thật của chính mình, nên Tôn Ngộ Không biết được tự nhiên trùm khắp. Nhờ vậy, cái gì là giả, cái gì là thật, Y đều biết được tất cả, dù là vô hình hay là hữu hình.
Còn người sử dụng trí học hỏi của thế giới này, dù có học cao tột đến đâu, cũng không thể hiểu và biết được như cái Biết thanh tịnh của Phật tánh được.
Cái Biết thanh tịnh ấy:
– Người tu hành niêm mật và hiểu bình thường như sư phụ Trần Huyền Trang, không thể nào biết được. Dù sư phụ có dụng công ngồi thiền suốt 5, 7, ngày liền! Quên ăn, quên ngủ, vua, quan kính nể, vang danh khắp trong thiên hạ, cũng không thể biết như cái Biết của Phật tánh thanh tịnh được!
Cái Biết thanh tịnh ấy:
– Người tu hành lười biếng, như Trư Bát Giới: Ham ăn, mê ngủ, ham đủ thứ dục lạc ở thế gian này, cũng không thể biết như cái Biết thanh tịnh của Phật tánh được!
Cái Biết thanh tịnh ấy:
Người tu hành cần cù như Trương Ngộ Tịnh, siêng năng, chăm chỉ, không bỏ sót thứ gì, dù là một việc nhỏ nhất, không biết mệt mỏi, cũng không thể biết, như cái Biết thanh tịnh của Phật tánh được!
Nói tóm lại:
– Ba hạng người tu hành như nói trên, họ không thể nào biết được cái Biết thanh tịnh của Phật tánh.
Bởi vậy, ở hội của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, về phần Tăng, Ni, tu trên 500 vị, còn phật tử cả mấy ngàn người, họ đến tu với Ngũ Tổ, vì nghe Ngũ Tổ được truyền Y và Bát của Đức Phật dùng hằng ngày, họ đến với Ngũ Tổ là vì cái “Danh”, chứ không phải đến để tìm Phật tánh thanh tịnh của chính họ!
Do đó, khi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn muốn truyền Thiền tông lại cho ai nhận ra Phật tánh thanh tịnh của chính họ, để Tổ truyền Thiền tông lại.
Thượng tọa Thần Tú là một vị Giáo thọ sư, dạy Tăng lẫn Ni và phật tử, thế mà Thượng tọa Thần Tú không hiểu Thiền tông học là gì?
Thượng tọa Thần Tú đến học đạo với Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, cũng vì “Danh”, vì chức làm thầy thiên hạ, chứ không phải học để giác ngộ!
Vì vậy, khi Ngũ Tổ bảo toàn thể Tăng và Chúng làm kệ, để xem coi có ai biết được Phật tánh của chính mình không, nếu ai nhận rõ Phật tánh của chính mình, thì Ngũ Tổ sẽ truyền Thiền tông cho để làm Tổ sư Thiền tông kế tiếp.
Ở hội Ngũ Tổ, có Thượng tọa Thần Tú được coi là vị hiểu đạo cao nhất, trên là Ngũ Tổ, dưới là Ngài, nhưng khi làm kệ để trình bày “Tánh Phật” của chính Ngài, Ngài mù mịt!
Một vị chức cao tột đỉnh như vậy, mà không biết Phật tánh là gì, thì những người tu hồi đó họ làm sao biết được?
Những người thời đó họ đến với Ngũ Tổ cũng vì “Danh” của Ngài thôi!
Còn các người đi tìm học đạo ngày nay, cũng không khác gì người xưa.
Vì vậy, đạo tràng ngày nay có rất nhiều người đến học, mà học một thời gian rất dài, mà cũng chưa thấy có ai giác ngộ cả, thì làm sao giải thoát?
Vì sao vậy?
– Vì chính ông Thầy đứng ra giảng nói, vị Thầy ấy còn chưa biết được tánh Người chứ đừng nói chi là tánh Phật.
Xin nói thêm về Thiền tông học này:
– Khi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn tịch, Thượng tọa Thần Tú được đức vua Võ Tắc Thiên mời về triều đình làm Quốc sư. Vua Võ Tắc Thiên là người hiểu rất thông Thiền tông học.
Đức vua có hỏi Quốc sư Thần Tú:
– Khi còn sanh tiền, Đức Ngũ Tổ có dạy đạo“Nhất thừa”, vậy Quốc sư hãy nói đạo ý nghĩa đạo Nhất thừa cho Trẫm nghe thử?
Ý đức vua Võ Tắc Thiên lấy câu truyện trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa về xe trâu trắng mà Đức Phật dạy như sau:
Nhất thừa là cỗ xe trâu.
Đổ đi sanh tử, còn đâu luân hồi
Bạch ngưu hiện rõ ra rồi
Luân hồi sinh tử là “Thôi” với mình.
Còn Thiền tông, các vị Tổ sư thiền có dạy:
Thiền tông là “Nhất tự thiền”
Đưa người thanh tịnh về miền quê xưa
“Nhất tự” không dụng sớm trưa
“Buông, Dừng, Thôi, Dứt” quê xưa thấy liền.
Đạo “Một chữ” Quốc sư Thần Tú không biết, nên vua Võ Tắt Thiên hỏi thêm câu thứ hai:
– Nay Trẫm đã già, mắc phải bệnh của người lớn tuổi, trong thiên hạ, nhiều người bảo: Nếu biết uống trà đạo sẽ trị được bệnh thân và bệnh tâm, vậy Quốc sư có thể chỉ cho Trẫm được không?
Câu hỏi đạo “Nhất thừa” Quốc sư Thần Tú không trả lời được, lại bị câu hỏi thứ hai, quốc sư Thần Tú đành thưa với vua Võ Tắc Thiên:
– Về chỗ sâu mầu này, thật tình Thần không hiểu, kính xin Bệ hạ cử người về phương Nam hỏi Lục Tổ Huệ Năng ắt sẽ rõ.
Đức vua, sai ông Tiết Giản về phương Nam hỏi Đức Lục Tổ. Đức Lục Tổ Huệ Năng không giảng dạy mà chỉ đọc có 9 chữ để ông Tiết Giản ghi, đem về trình lên vua Võ Tắt Thiên. Chín chữ ấy như sau:
– Không trà, không tâm, biết uống là hết bệnh!
Ông Tiết Giản về triều tâu trình lên vua Võ Tắt Thiên. Đọc xong thư, đức vua biết cách uống trà đạo để trị bệnh thân và bệnh tâm, liền xuất khẩu thành bài thơ bốn câu:
– Tay bưng lấy một tách trà
– Trà vừa vô miệng hết đà bệnh tâm
– Ơn Thầy chỉ dạy rất thâm
– Nhờ vậy, Trẫm thấy bệnh thân không còn.
Bốn câu thơ nói trên, là bốn câu thơ đã nói lên Nhà vua ngộ được lý Thiền tông, chứ không phải tầm thường. Cũng nhờ chín chữ ấy, vua Võ Tắt Thiên đã nhận ra Phật tánh của chính mình và sống với Phật tánh ấy. Nhờ vậy, khi đến 80 tuổi, vua ngồi kiết già rồi thị tịch tự bỏ xác thân mình. Người sống được trong Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh mới có khả năng này.
Xin nhấn mạnh về chín chữ mà Đức Lục Tổ Huệ Năng dạy vua Võ Tắt Thiên:
“Không trà, không tâm, biết uống là hết bệnh!”
Đức vua nhận ra chỗ thâm sâu này, tức khắc nhận ra được Phật tánh Thanh tịnh của chính Ngài. Lúc này, câu “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, mà trong Bát Nhã Tâm Kinh thường lặp đi lặp lại, trước kia Nhà vua mờ mịt, nay đã hiện rõ nghĩa chân thật, như dưới ánh sáng ban ngày, đồng nghĩa Nhà vua nhận ra được Phật tánh chân thật của chính Ngài rõ ràng thanh tịnh; không phải là cái tâm lăng xăng của vật lý, còn sự học hỏi của tâm vật lý và xác thân tứ đại của Nhà vua chỉ là của sinh diệt luân hồi. Hai thứ này, Nhà vua biết cách tách rời ra nên tự bỏ xác thân một cách rất dễ dàng và hòa nhập vào Niết bàn Thanh tịnh của Mười Phương Chư Phật.
Khi đức vua ngộ được lý Thiền tông qua chín chữ dạy của Đức Lục Tổ Huệ Năng, đức vua Võ Tắc Thiên có Sắc Chỉ cám ơn Đức Lục Tổ Huệ Năng, với các lời văn kệ như sau:
– Sở dĩ, suốt đời làm vua của Trẫm được trên thuận dưới hòa, giải quyết được tất cả công việc nước, dù có khó đến đâu, cũng được vượt qua. Đó là Trẫm nhờ ân đức lớn: Trong nước của Trẫm có vị tu hành đạt đạo. Hôm nay, Trẫm mới biết, người đạt được đạo ấy chính là Thầy. Nhờ lời dạy của Thầy, Trẫm đã nhận ra Bản Lai Diện Mục của chính mình và sống được với Bản Lai Diện Mục ấy. Để đáp lại công ơn trời biển của Thầy, nay Trẫm có Sắc Kệ bốn câu, kính dâng lên Thầy. Trước, cám ơn Thầy, sau, là trình kiến giải của Trẫm đã nhận ra được chỗ thâm sâu mà Chư Phật đã dạy, mong Thầy chứng minh.
Sắc Kệ rằng:
– Lời dạy của Phật rất cao sâu
– Tỷ đời triệu kiếp con tìm cầu
– Hôm nay nghe được lời Thầy dạy
– Rõ nghĩa Như Lai rất nhiệm mầu!
Đức Lục Tổ nhận và ấn chứng cho vua Võ Tắc Thiên đã triệt ngộ được “Bí mật Thiền tông”. Nên bài Sắc Kệ này được công bố khắp trong nước. Vì vậy, tất cả các chùa trước khi khai kinh tụng đều lấy bài kệ của vua Võ Tắc Thiên tụng để khai kinh.
Sắc Kệ này có 28 chữ, ban đầu các chùa tụng đúng nguyên bản gốc. Dần dần về sau này, tụng lệch đi sáu (6) chữ, nên làm mất đi ý nghĩa chánh của bài kệ khai kinh. Bài kệ của vua Võ Tắc Thiên là trình kiến giải về đạt “Bí mật Thiền tông” và được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” của chính bà.
Còn bài kệ hiện nay các chùa đang tụng để khai kinh, là bài kệ cầu nguyện mong đạt được ý sâu mầu lời của Đức Phật dạy, thật là đáng tiếc!
Vì sao có sự sai lệch này?
Vì người sau này dịch kệ thiền mà họ không giác ngộ “Yếu chỉ Thiển tông” là phải sai! Tất cả kệ thiền hay kinh nói về thiền, ẩn chứa ý sâu mầu trong từng chữ, từng câu, không thể thêm hay bớt một chữ hay một nét nào được! Nếu đem cái tri thức suy ngẫm của học thức mà giải về thiền học, thì chắc chắn phải bị sai!
Người ngộ thiền giống như người trước kia bị mù mà nay được sáng mắt. Còn người dịch kinh hay kệ thiền mà chưa ngộ thiền, giống như người còn đang mù mắt, nương theo cái suy nghĩ của học thức của mình mà dịch kinh hay kệ thì giải làm sao đúng được!
Xin nhấn mạnh thêm:
Người muốn dịch kinh hay kệ thiền, ít nhất người đó phải giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”; chứ không giác ngộ Yếu chỉ Thiền tông mà dịch kinh hay kệ thiền, là phải mang lỗi với người xưa và với người nghiên cứu, tụng hay đọc! Hai lỗi ấy, Đức Phật và các vị Tổ sư Thiền tông không chấp nhận!
Đó là việc của quá khứ!
Còn hiện tại, ở nước Việt Nam chúng ta, nếu vị nào quyết chí tu theo đạo Phật để được giác ngộ và tìm đường giải thoát, thì hãy tìm cho được một vị Thiện tri thức, đã đạt được “Bí mật Thiền tông”, nhờ vị ấy giúp đở thì người tu mới mong thành công được. Còn không tìm được vị này, dù chúng ta có đi nghe người chưa biết Thiền tông học là gì, dù chúng ta có nghe họ giảng 100 năm cũng không khi nào giác ngộ, chứ đừng nói chi giải thoát.
Xin mách người đạt được “Bí mật Thiền tông”:
Người đạt được “Bí mật Thiền tông”, vị này không khi nào đứng trước đông người nói, mà vị này chỉ cần nhìn người đối diện nói chỉ 1 câu, là vị này biết người đối diện có muốn tu giải thoát hay không, tự vị này nói cho người đối diện biết.
Thứ bảy: Hầu vương, trở thành là một hành giả.
Đây mới bắt đầu chính thức là một vị chân tu. Vì là chân tu nên biết tất cả những hư, ngụy, chánh, tà, v.v… Vì vậy, trên con đường đi của Hầu vương không sự việc gì qua mắt được Hầu vương cả, còn người dụng công niêm mật như sư phụ Trần Huyền Trang, chểnh mảng như Trư Bát Giới hay cần cù như Trương Ngộ Tịnh, cũng không sao biết được sự thật của một người tu theo đạo giải thoát! Không biết đường đi của đạo giải thoát. Dù có tu trải qua một ngàn đời đi chăng nữa, cũng phải lầm lủi đi trong sáu nẻo luân hồi không ngày cùng!
Vì chỗ này mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy: “Dù các ông có ngồi Đạo Tràng dụng công tu thiền 10 tiểu kiếp, Phật tánh của các ông cũng không thể nào hiển lộ ra được!”
Thứ tám: Thân cận Như Lai (tức Phật tánh):
Khi Hầu vương tiếp cận được Đức Phật rồi (chỉ tiếp cận thôi chứ không phải vào được nhà của Như Lai). Tới đây, không một lời nào để nói, ví là kinh Vô tự. Khi bước vào Nhà Như Lai thì không thể nói một lời nào cả, mà chỉ thấy vậy, hiểu vậy, biết như vậy thôi, v.v… Cái hay Thấy và cái hay Biết, lúc nào cũng trong sáng, thanh tịnh và trùm khắp, diệu dụng, đầy đủ, v.v…
Đến đây trong Huyền ký Đức Phật có dạy như sau:
– Khi các ông đã vào được Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh rồi, thì những việc trong Phật tánh để Phật làm mà thôi, vì chỗ đó Đức Phật có dạy 4 câu:
Trí thế ông dẹp được rồi
Những thứ trong Tánh, Phật làm mà thôi
Vào đây bị mất cái Tôi
Pháp Thân Thanh tịnh hiện rồi với “Ta”.
Khi vị nào có đại phúc được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” thì không thể nào sử dụng ngôn từ của thế giới này được. Vì vậy, chúng ta mới biết tại sao khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi thành đạo, Ngài không muốn nói, vì Ngài thấy mọi sự vật trên đời này đều khác hẳn với mọi sự Thấy và Biết của Ngài trước khi chưa thành đạo.
Ngài thấy, từ vô hình hay hữu hình đều vận hành rất trật tự, công bằng, rất nhịp nhàng, không sai sót, đầy đủ khắp trong vũ trụ này! Không thể dùng lời nói của con người mà diễn tả được. Có nghĩa, mọi sự Thấy và Biết của con người sống trên thế giới này đều bị đảo lộn tất cả! Nên Ngài không nói được! Vì vậy, đến chỗ này, được coi là vô ngôn, tức kinh vô tự. Đến đây, chúng ta mới giải mã những bí ẩn của các Thiền sư.
Có ai hỏi các Ngài:
– Thế nào là Phật tánh hay chân tâm của con?
Các Ngài không trả lời, mà đánh một gậy hay hét một tiếng lớn, hoặc đạp cho một đạp là đã trả lời cho người hỏi rồi. Nếu ai lanh lợi sẽ nhận ra câu trả lời, còn khởi vọng tìm ý nghĩa lời nói thì mờ mịt!
Chính chỗ này, hiện giờ các vị Giảng sư dùng trí óc học cao của chính mình để giảng, thì làm sao giảng đúng được. Vì chỗ bí ẩn này, chỉ một chữ Phật họ còn không biết, thì làm sao họ biết toàn bộ những gì trong “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” mà họ giảng?
Thứ chín: Vì muốn cho mọi người hiểu, nên Hầu vương phải thỉnh kinh có chữ để trợ giúp cho mọi người thấu hiểu. Nương theo 12 bộ kinh Đại thừa. Nương theo những pháp quán, tưởng, hay tìm kiếm để lần lần trở về nguồn cội của chính mình mà trong Nhà Phật gọi là trở về với “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” mà không phải vượt qua các thứ lớp tu hành.
Thứ mười: Trở về cố hương.
Mục thứ mười này, đây là mục kết thúc một đời trầm luân của một hành giả tu theo pháp môn Thiền tông đạo Phật. Chỉ có tu theo pháp môn Thiền tông mới trở về cố hương được. Chứ tu theo các pháp môn khác, dù phải trải qua không biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, từ sai lầm này, đến sai lầm nọ. Từng ở các cõi Trời hưởng phúc. Từng ở các tầng Địa ngục để chịu những hình phạt gớm ghê. Từng làm vua ở nhân gian, từng làm chúa ở các cõi Trời, ăn trên ngồi trước. Hay từng làm kẻ bần cùng hèn hạ, từng làm Ngạ qủy, Súc sanh, làm Thần làm Thánh, để mê hoặc người khác… Sau cùng, cũng phải tu theo pháp môn Thiền tông, mới trở về cố hương được, đến đây mới kết thúc một chúng sanh bị đi trong lục đạo luân hồi!
Nói tóm lại:
Truyện Tây Du Ký, là diễn tả một con người từ khi mới sanh ra, làm tất cả những chuyện lành, dữ ở trong tam giới này, chứ không phải là một cốt truyện có phép mầu mà từ người trẻ, đến người lớn đều hiểu lầm. Cái lầm lẫn rất lâu, không ai giải thích ý sâu mầu chân thật cái ý của Ngài Ngô Thừa Ân muốn chỉ.
Nay chúng tôi xin giải mã, phơi bày ẩn ý cốt truyện “Tây Du Ký” này, mong được nhiều người hiểu và hiểu thật rõ ràng, để đáp lại lời hay ý đẹp mà Ngài Ngô Thừa Ân đã muốn chỉ cho chúng ta.
Kính mong những ai có duyên đọc được quyển sách nhỏ này, nhận ra ẩn ý của Ngài Ngô Thừa Ân và đạt được những sự chỉ giáo ấy, để chúng ta trở về cố hương của chính mình, ở trên đời này không gì quý bằng vậy!
Trích quyển “Hành đúng lời Phật dạy chắc chắn Giải thoát”


Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2016

Một lời ước hẹn- Mấy đời làm tăng, khó thoát tình duyên

(Sưu tầm)
Tôi và vợ tôi không phải là người cùng một tỉnh, khi tôi chán nản buồn bã đã quen được cô ấy, sau này trải qua bao nhiêu trở ngại, chúng tôi mới kết thành vợ chồng, thời gian đó chúng tôi đã vượt biết bao khó khăn. Trong tâm tôi luôn cảm thấy mình nợ cô ấy rất nhiều, cô ấy có tính hay dựa dẫm vào tôi, nếu một ngày không nhìn thấy tôi thì tâm thần bất an, đứng ngồi không yên.
Tôi khai mở một số ký ức ở những đời trước, vợ tôi cũng vì thế mà thường nói với tôi: “Kiếp trước em và anh rốt cuộc là có quan hệ nhân duyên thế nào? Anh không thể xem một chút sao?” Tôi nói với cô ấy rằng điều này không thể cưỡng cầu được.
Vào một buổi tối, tôi lại một lần nữa vượt qua không gian và thời gian của luân hồi, trở về hơn một nghìn năm trước, nhìn thấy được những ân oán giữa tôi và vợ.
Trong kiếp đó, sau nhiều năm tôi xuống núi vân du, khi trở về chùa Vĩnh Hoa thì sư phụ đã viên tịch rồi, bởi vậy chúng tăng trong chùa chọn tôi lên làm trụ trì. Không lâu sau tôi bắt đầu lập đàn giảng kinh tuyên dương Phật Pháp, khi đó tôi chưa đến 30 tuổi, những người thường họ hay gọi đùa tôi là “tiểu phương trượng.” Cùng với ảnh hưởng được mở rộng, hương hỏa trong chùa càng ngày càng thịnh vượng; khách hành hương, các tín chúng, những người hỏi đạo đến tôi đều không cự tuyệt. Một hôm, một nhà giàu họ Lý có việc đi qua chùa, ông dẫn theo người nhà, tiện đường liền lên núi thắp hương kính Phật, khi uống trà nói chuyện thì biết được cả nhà ông đều tín phụng Phật Pháp, hay làm việc thiện, vì nghe nói tôi tu luyện trong Phật Pháp đạt được trình độ nhất định nên ghé vào thăm, thuận tiện cho chúng tăng một ít đồ cúng. Đi cùng còn có con gái của ông, dáng vẻ khoảng 16~17 tuổi, dung mạo đoan trang, cô nhìn thấy những câu kệ tôi viết liền cầm lên xem hồi lâu, rồi chợt hỏi chuyện một cách tò mò, tôi khiêm tốn trả lời từng câu hỏi. Không lâu sau thì họ phải lên đường, khi từ biệt tôi mới phát hiện ánh mắt của Lý tiểu thư không rời khỏi tôi, ánh mắt đó từ trước đến giờ tôi chưa từng tiếp xúc qua. Bỗng nhiên tôi thấy chấn động, tâm tư suy nghĩ bất định, tự nhủ: “Ta tu hành từ nhỏ đến nay, tự nghĩ định lực bản thân không hề nông cạn, làm sao trước nữ sắc lại thất bại thế này?” Từ hôm đó, nhiều ngày khi đả tọa không thể nhập định được, những suy nghĩ bất chính liên tiếp đến; dần dần phải qua thời gian dài mới có thể chế phục được tâm ma này, từ đó tu luyện trong Phật Pháp không dám có chút buông lơi nữa.
Một năm sau, dưới núi có người vội vã đưa đến một bức thư, thì ra là thư của Lý viên ngoại, tôi vừa mở ra xem mồ hôi lạnh liền toát ra, vội vàng niệm Phật hiệu. Trong thư viết con gái Lý viên ngoại từ sau khi ở chùa trở về, không lâu sau thì ngã bệnh, không cách nào chữa được, tìm không ra nguyên nhân căn bệnh, tiểu thư không nói, người nhà cũng không có cách nào. Sau này mới ít nhiều biết được là vì tương tư tôi nên thành bệnh, nghĩ tôi là người trong Phật môn, chuyện này chẳng phải trò cười hay sao? Nhưng không biết làm thế nào vì sức khỏe con gái ông ngày càng nguy kịch, chỉ còn cách mời tôi từ bi xuống núi thăm con gái ông.
Việc cứu người là khẩn cấp, do đó tôi vội vàng thu xếp công việc và đồ đạc rồi theo người đưa thư xuống núi. Sau nhiều ngày thì đến được Lý phủ. Lý viên ngoại trong lòng nóng như lửa đốt, nhìn thấy tôi đến bèn vui mừng ra đón, rồi dẫn tôi vào trong nhà. Dường như đã có người sớm báo cho tiểu thư, viên ngoại ở bên ngoài gọi tiểu thư: “Con gái, con xem ai đến này.” Tiểu thư từ từ ngồi dậy khỏi giường, nét mặt ửng hồng, khe khẽ hỏi tôi: “Cao tăng, ngài đã biết rồi sao?” Lời nói có vẻ mệt mỏi, cơ thể biểu lộ ra vẻ yếu ớt.
Tôi vội vàng thi lễ, ra hiệu cô ấy không nên cử động nhiều, sau đó tôi giảng giải về Phật Pháp, muốn cô ấy vượt qua chướng ngại tình cảm nam nữ, nhưng cô ấy tựa như nghe mà không nghe, lúc sau hỏi tôi: “Cao tăng, kiếp này ngài và tôi không thể đến được với nhau ư?”
Tôi liền lập chưởng nói: “Đúng vậy, tuyệt đối không thể được!”
Nước mắt cô gái lăn dài trên má, một hồi lâu sau cô ấy chỉ vào gói đồ trên bàn và nói: “Hôm nay gặp nhau, không biết khi nào mới lại tương phùng, tôi tặng ngài một bó tơ lụa làm đồ cung dưỡng, mong cao tăng nhận cho.” Tôi ấp úng nói: “Cái này…” Dáng vẻ của cô ấy làm tôi không nỡ cự tuyệt: “Vậy bần tăng xin nhận, cảm tạ nữ thí chủ, bần tăng xin cáo từ, xin nữ thí chủ an tâm nghỉ ngơi dưỡng bệnh, đọc nhiều kinh Phật, sức khỏe sẽ sớm hồi phục.”
Thấy cô ấy lặng im, tôi liền quay người bước ra khỏi phòng. “Cao tăng xin hãy thong thả,” tiểu thư ở sau lưng tôi gọi.
Tôi quay người lại: “Nữ thí chủ vẫn còn việc gì muốn nói hay sao?”
Ánh mắt cô gái lộ vẻ kỳ lạ: “Nếu đời này ngài tu không thành thì sao?”
Tôi đáp lời cô ấy: “Nếu đời này ta không tu thành, đời sau vẫn tiếp tục làm tăng.”
“Nếu đã như vậy, dải lụa này xin làm tín vật, kiếp sau tôi lại lên chùa tìm ngài.” Nói xong tiểu thư quay người đi vào trong.
Trở về chùa được hai năm, nghe nói sau khi tôi rời khỏi đó không lâu, Lý tiểu thư đã qua đời trong sầu não. Việc này đã khuấy động cả một đời của tôi, quả nhiên trong kiếp đó tôi tu không thành.
Chớp mắt đã đến đời sau, tôi quả nhiên lại chuyển sinh thành hòa thượng, sau đó ở chùa Vĩnh Hoa tiếp tục làm trụ trì. Thấm thoắt mấy năm trôi qua, đã lại đến trung thu, ngày thứ hai là ngày hương hội, buổi tối khi tôi đả tọa nhập định, bỗng nhiên trước mắt hiện lên một khoảng không rõ ràng, rồi xuất hiện công năng nhìn được tương lai quá khứ; tôi biết được mình là phương trượng tiền nhiệm chuyển thế và cũng biết được chuyện gì sắp xảy ra, sau khi xuất định chỉ biết thở dài than rằng: “Định số! Đúng là định số!” Ngày hôm sau, người đến hành hương rất đông, đến trưa nghe thấy phía bên ngoài cổng chùa có tiếng truyền vào, trong tâm tôi máy động: “Đến rồi, cuối cùng cũng đã đến!” Lát sau, các khách tăng dẫn người có dáng vẻ là quan viên đi vào đại điện, lễ Phật xong ở trong phòng khách mời tôi tiếp đón.
Vị quan viên vừa thấy tôi liền nhìn kỹ trên dưới, rồi không ngừng gật đầu: “Quả đúng như thế, quả đúng như thế!”
Hai tay tôi hợp lại trước ngực: “Xin hỏi đại nhân từ đâu đến? Đến có việc gì?”
Người đó bỗng như giật mình tỉnh giấc, trả lời: “Ta đến từ Trường An, vì con gái mà đến quý tự tìm người.” Tôi nói: “Tìm người ư? Trường An cách Vĩnh Hoa tự cả trăm dặm, làm sao có người cô ấy cần tìm được?” Các khách tăng đều cảm thấy kỳ lạ.
“Là như vầy…” Người đó giải thích: “Ta có một cô con gái, nó giống như viên minh châu trong tay vợ chồng ta, chằng mấy chốc đã đến tuổi kết hôn, có rất nhiều người nó cũng thấy vừa mắt. Một hôm nó mơ thấy chồng mình là người nơi cửa Phật, hơn nữa kiếp trước từng có ước hẹn; cụ thể hiện giờ ở chùa nào, dáng vẻ ra làm sao, còn có tín vật làm chứng, nói rõ ràng mười mươi. Ta cũng là người tin Phật, mặc dù bán tín bán nghi, ta vẫn muốn đến trước để hỏi dò và nghe ngóng xem sao, không ngờ quả thật rất đúng với lời con gái nói, không sai chút nào.” Các sư đệ bên cạnh nghe không lọt nữa, tức giận nói: “Vớ vẩn, phương trượng chúng tôi là cao tăng đắc đạo, sao lại có thể giống lời ông nói được chứ?”
Tôi đưa tay lên ra hiệu bảo họ đừng nói nữa, rồi đi vào nhà kho mở hòm gỗ của phương trượng tiền nhiệm để lại, lấy ra gói đồ để lâu đã bị bụi phủ kín, cảm xúc dâng trào. Sau đó trở lại phòng khách, đặt gói đồ lên bàn rồi nói với vị quan viên: “Đây chính là tín vật mà con gái ngài nói, đó là di vật của tổ sư.” Lúc này các tăng nhân trong chùa tụ lại ngày càng đông, có người chen vào trong phòng, đứng không được liền chen lên bên cửa sổ, chen nhau mà thở, hiếu kỳ chăm chú vào mọi việc xảy ra ở đây. Vị quan viên nói: “Vậy thì ngài hãy mở gói đồ đó ra xem xem.” Mọi người lần lượt hướng ánh mắt về phía tôi.
“Được rồi.” Tôi nhẹ nhàng mở gói đồ ra, quả nhiên là một bó vải lụa màu trắng, mọi người đều ngạc nhiên. Bỗng nhiên dải lụa đó phát ra ánh sáng nhạt, các tăng nhân cùng tụng niệm Phật hiệu, phủ phục xuống quỳ lạy. Lúc lâu sau, mọi người mới giật mình tỉnh lại, vị quan viên đó nói với tôi: “Nếu tất cả đều là sự thật, thì xin cao tăng thu xếp rồi cùng tôi lên đường vào phủ chọn ngày để cùng tiểu nữ hoàn thành hôn sự, con gái tôi kết hợp với ngài đúng là ‘trai tài gái sắc.’”
Cả đại điện bỗng chốc tĩnh lặng, mọi người điều tỏ ra vô cùng lo lắng. Tôi suy nghĩ một lúc rồi chỉnh lại tăng y, ngồi ngay ngắn trên chiếc bồ đoàn, tay lần chuỗi Phật châu niệm một đoạn dài Phật hiệu, nước mắt lăn xuống với dáng vẻ đau thương: “Là nợ nghiệp kiếp trước, làm ta hai đời không thể giải thoát được, đành đoạn dứt từ đây, đợi đến khi đắc lại chính Pháp vậy!” Nói xong tự mình làm tọa hóa mà rời đi (tọa thiền cho đến khi viên tịch).
Đây chính là quan hệ nhân duyên giữa tôi và vợ, trải qua luân hồi hàng nghìn năm, trong đời này chúng tôi đều sinh ra trong gia đình nghèo khó, nơi trần thế mênh mông này nối tiếp tiền duyên, mặc dù xa cách nghìn dặm nhưng cuối cùng chúng tôi cũng đến với nhau, hơn nữa lại là duyên lành quy y Phật Pháp, buông bỏ tình, tiếp tục tu hành trong một pháp môn không cần xuất gia mà vẫn có thể tu thành…
Vậy mới biết, mọi sự trên đời đều là hai chữ nhân duyên…



Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2016

Chùa Quan Âm Phúc Hải

Chùa Quan Âm Phúc Hải là ngôi chùa của người Hoa phía sau chợ Phúc Hải, thành phố Biên Hòa. Chùa được xây dựng đã lâu đời. Trước đây khu Phúc Hải tập trung rất đông người Hoa sinh sống. Nhà nội Yun trước đây cũng từng ở nơi này, sau đó nội mới dọn về quê làm rẫy và mất luôn nhà ở đây (để lâu không lên ở người ta chiếm mất, sau giải phóng nói chung cũng khá lộn xộn). Một số họ hàng bên nội vẫn còn ở trong khu này tới giờ.
Yun thỉnh thoảng cũng có ghé chùa lạy Quan Âm, nhưng thường đi ngày thường. Lí do lại hơi buồn cười xíu là ngày trước học phổ thông Yun hay ăn canh bún của một cô người Hoa bán trước cổng chùa, Yun ăn từ lúc cô ấy mới mở bán cho tới giờ, chỉ là 1 gánh bún hàng rong. Bún cô bán rẻ, có 15k/ tô nhưng lại ngon và chất lượng cực kì. Giờ già rồi nhưng thỉnh thoảng Yun cũng ghé ăn, quán bún của cô bán từ 12h trưa cho tới khoảng 3h chiều là hết, giờ khách đông lắm, ngồi chờ thì hơi lâu. Mỗi lần ăn xong bún của cô ấy Yun lại vào chùa lạy Quan âm xong mới về. 
Cũng lâu rồi Yun không ghé gánh bún của cô, trưa mấy hôm trước tự dưng thèm nên ghé. Cô bảo Yun CN đi chùa, vì hôm đó là lễ vía Quan Âm 19/2 Al. Trong chùa sẽ làm tiệc chay khoảng 100 bàn đãi khách, và nếu rảnh thì đến sớm phụ lặt vặt. Yun rủ cả tiểu sư muội đi luôn, tuy nhiên sư muội chỉ lắc xâm rồi về, còn Yun sau khi xuống bếp thấy đội ngũ phục vụ đông quá không có việc làm thì chạy loanh quanh chùa chụp hình, coi múa lân, hihihi. 

Cổng chùa

Khách vào cổng sẽ được tiếp tân dán miếng giấy lên ngực áo

Chùa Quan Âm - Phúc Hải - Biên Hòa

Đội múa lân chuẩn bị biểu diễn

Tượng Quan âm trước sân

Những chiếc đèn treo này sẽ được bán đấu giá để gây quỹ cho chùa

Quyên góp công đức cho chùa

Phật tử vào thắp nhang

Mở bàn chuẩn bị ăn cơm chay

Yun tính phụ vặt trong nhà bếp nhưng nhà chùa thuê đội ngũ  phục vụ trai xinh gái đẹp làm hết rồi.

Đội trống lễ vừa hoàn thành tiết mục biểu diễn

Lễ múa lân

Mặc áo bào cho Quan Âm

Đang bán đấu giá đèn gây quỹ cho nhà chùa
P/s: Ăn xong đi về thì có một anh gọi Yun lại hỏi: "Đã ăn chưa mà đã về?" Yun bảo ăn rồi thì anh ấy nhắc Yun phải ăn cho no đó. Yun cười cười trả lời: "Em ăn no chứ, người Hoa mà, khách sáo gì đâu ta", kekekeke.

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

Lễ Vu Lan 2014

Mùa Vu Lan năm nay Yun tham dự lễ tại thiền viện Phước Sơn - Tân Cang - Long Bình - Biên Hoà - Đồng Nai :)

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

Lời Phật dạy về tình yêu đôi lứa


Đêm khuya, trong một ngôi Chùa, có một người quỳ dưới chân Đức Phật nhờ Ngài dạy về chuyện tình yêu.
Người: Thưa Đức Phật thánh minh, con là một người đã có vợ, con hiện đang yêu say đắm một người đàn bà khác, con thật không biết nên làm thế nào?
Đức Phật: Con có thể xác định người đàn bà con đang yêu hiện nay là người đàn bà cuối cùng và duy nhất trong cuộc đời con không?
Người: Thưa vâng.
Đức Phật: Con ly hôn, sau đó lấy cô ấy ?
Người: Nhưng vợ con hiện nay dịu dàng, lương thiện, thảo hiền. Con bỏ cô ấy liệu có phần tàn nhẫn không, có mất đạo đức không, thưa Đức Phật?
Đức Phật: Trong hôn nhân không có tình yêu mới là tàn nhẫn và mất đạo đức. Con hiện giờ đã yêu người khác, không yêu vợ nữa. Con làm như thế là đúng.
Người: Nhưng vợ con vẫn rất yêu con, quả thật yêu con lắm, thưa Đức Phật.
Đức Phật: Vậy thì vợ con hạnh phúc.
Người: Sau khi con chia tay vợ để lấy người khác, vợ con sẽ rất đau khổ, tại sao lại hạnh phúc, thưa Đức Phật?
Đức Phật: Trong hôn nhân, vợ con vẫn có tình yêu đối với con, còn con đã mất đi một tình yêu đối với vợ con. Bởi vì con đã yêu người khác, chính vì có hạnh phúc, mất đi mới đau khổ, cho nên người đau khổ là con.
Người: Nhưng con cắt đứt vợ, sau đó cưới người khác, vậy là cô ấy đã mất con, cô ấy mãi là người đau khổ.
Đức Phật: Con nhầm rồi, con chỉ là người vợ con yêu thật sự trong hôn nhân. Khi một người như con không tồn tại, thì tình yêu thật sự của vợ con sẽ tiếp nối sang một người khác, bởi vì tình yêu thực sự của vợ con trong hôn nhân xưa nay chưa từng mất, cho nên vợ con mới là người hạnh phúc, con mới là người đau khổ.
Người: Vợ con đã từng nói kiếp này chỉ yêu mình con thôi. Cô ấy sẽ không yêu ai khác.
Đức Phật: Con cũng đã từng nói thế phải không?
Người: Con…con…con…
Đức Phật: Bây giờ con nhìn ba ngọn nến trong lư hương trước mặt, xem ngọn nào sáng nhất?
Người: Quả thật con không biết, hình như đều sáng giống nhau.
Đức Phật: Ba ngọn nến ví như ba người đàn bà. Một ngọn trong đó là người đàn bà hiện giờ con đang yêu. Đông đảo chúng sinh, đàn bà đâu chỉ là mười triệu trăm triệu…Ngay đến một trong ba ngọn nến, ngọn nào sáng nhất con cũng không biết, cũng không tìm được người con hiện đang yêu, thì làm sao con xác định được người đàn bà hiện nay là người đàn bà cuối cùng và duy nhất trong cuộc đời con?
Người: Con…con…con…
Đức Phật: Bây giờ con cầm một cây nến đặt trước mắt để tâm nhìn xem ngọn nào sáng nhất?
Người: Đương nhiên ngọn trước mặt sáng nhất.
Đức Phật: Bây giờ con đặt nó vô chỗ cũ, lại xem xem ngọn nào sáng nhất.
Người: Quả thật con vẫn không nhìn ra ngọn nào sáng nhất.
Đức Phật: Thật ra cây nến con vừa cầm giống như người đàn bà cuối cùng con đang yêu hiện nay, tình yêu nảy sinh từ trái tim, khi con cảm thấy yêu nó, để tâm ngắm nghía, con sẽ thấy nó sáng nhất. Khi con để nó vô chỗ cũ, con lại không tìm được một chút cảm giác sáng nhất. Thứ gọi là tình yêu cuối cùng và duy nhất của con chỉ là hoa trong gương trăng dưới nước, suy cho cùng chỉ là con số không, một cuộc tình trống rỗng.
Người: Con hiểu rồi, không phải Đức phật bảo con phải ly hôn vội vã, Đức Phật đang niệm chú làm cho con ngộ đạo.
Đức Phật: Nhìn thấu sẽ không nói trắng ra, con đi đi!
Người: Bây giờ con đã biết thật sự con yêu ai, người đó chính là vợ con hiện nay, thưa Đức Phật.
Đức Phật: A Di Đà Phật…
(Sưu tầm)
Lời bàn của Yun: Người không biết quý trọng tình yêu của người khác dành cho mình là người bị mất nhiều nhất. Thử ngẫm xem có phải vậy không nhé!!!!! Đa tạ Phật tổ đã cho Yun giác ngộ về tình yêu, người không biết trân quý tình yêu của Yun, sẽ không bao giờ có được tình yêu đó lần nữa.
Câu này đức Phật nói quả không sai vào đâu được: " Con chỉ là người vợ con yêu thật sự trong hôn nhân. Khi một người như con không tồn tại, thì tình yêu thật sự của vợ con sẽ tiếp nối sang một người khác, bởi vì tình yêu thực sự của vợ con trong hôn nhân xưa nay chưa từng mất, cho nên vợ con mới là người hạnh phúc, con mới là người đau khổ." ---> vì vậy đừng nghĩ rằng làm cho người khác tổn thương mà mình được hạnh phúc nhé, hỡi những kẻ ác, kẻ xấu. Luật nhân quả hiện hữu mọi nơi và có giá trị chân lí.

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014

Câu trả lời

Đang bắt đầu tập tành theo thần tượng thâm nhập Phật pháp, tuy chưa thể thực hành nhưng đây cũng là một giai đoạn khởi đầu cho sự chuẩn bị. Tối nay vô tình kiếm được câu trả cho trường hợp của Yun luôn, điều này Yun cũng thắc mắc về bản thân mình, không hiểu vì sao mình làm vậy luôn rồi tự hỏi mình có bị hâm không, nay đã có câu trả lời và tâm trạng gần như thoải mái với đáp án nhận được.

"Có những người nữ đến tuổi lấy chồng, nhiều chàng trai làm quen tán tỉnh mà vẫn không ưa, dù cho người xin cưới là người giàu sang, phú quí, có sự nghiệp, danh vọng, địa vị chức tước. Người đời thường cho đó là sự kén chọn, nhưng theo quan điểm tái sinh của Phật giáo, do người này đã từng hứa hẹn với một người nào đó từ kiếp trước mà trong tái sanh họ không gặp lại nhau. Cho nên mẫu người chuẩn để kết hôn mà chưa tìm gặp đã làm nhiều người chọn chủ nghĩa độc thân. Vì thế, họ không thể chấp nhận bất cứ mối tình nào đến với họ.
Có những cặp vợ chồng chênh lệch tuổi tác (không vì lý do tiền bạc) là vì họ đã hứa hẹn với nhau, nhưng việc sanh tử của hai người lại xảy ra lệch thời điểm. Không hiếm gì những người thân thể không thua kém ai, xinh gái, bảnh trai, khôn ngoan, lanh lợi, điều kiện có thừa, thế mà không tìm được một người bạn đời lúc còn son trẻ, đến khi tuổi đã xế chiều mới kết hôn. Bởi trong hứa hẹn, nếu người ra đi tin tưởng hoàn toàn vào người ở lại thì trong kiếp tái sanh đã có sẵn một mẫu người ngự trị trong tâm để tìm. Nếu chưa gặp được  mẫu người ấy, họ sẽ chờ và do vậy ở giá".

KHÓ ĐI VÌ TÌNH YÊU
Sự chấp trước trong tình yêu là một trở ngại của tái sinh. Có đôi vợ chồng trẻ rất thương yêu nhau, không may người vợ mắc phải chứng bệnh nan y. Cô biết rằng mạng sống của mình không còn kéo dài bao lâu nữa, nên trăn trối với người chồng: “Anh ơi! Anh là tất cả bầu trời hạnh phúc của em, em yêu anh không gì có thể sánh bằng. Em biết khi chết đi, em khó mà siêu sanh được, vì tình yêu của em dành cho anh vô cùng mãnh liệt, không dễ gì cắt đứt. Anh hãy hứa với em là sau khi em chết, anh vẫn ở vậy nuôi con, không để mắt đến cô nào, và anh giữ trọn lời hứa này cho đến lúc anh từ biệt cõi đời. Ta hẹn gặp nhau ở kiếp sau nha anh!”
Trong thực tế có người có cảm xúc tương tự, nhưng không phải ai cũng may mắn đón nhận tình cảm và lời thề của người ở lại, khi tuổi đời của họ còn quá trẻ, nhựa sống tràn đầy, sức lực tráng kiện. Bởi cuộc sống thế gian cần có sự chung tay, góp sức, cần sự chung chia những ngọt bùi, cay đắng ở đời, cùng với sự đòi hỏi về tâm sinh lý, con người khó có thể giữ được lời hứa theo nguyện vọng của người ra đi. Trước tình cảnh như vậy, tốt nhất người chồng nên vỗ về, an ủi người vợ rằng: “Em hãy an tâm ra đi, anh hứa sẽ một lòng, một dạ chung tình với em. Trong quãng đời còn lại anh sẽ không đem lòng yêu thương ai cả, bởi anh là người rất hạnh phúc, thoả mãn với tất cả những gì em đã dành cho anh.”
Sau khi nghe người chồng nói ra những lời cam kết chung tình, người vợ an tâm nhắm mắt ra đi một cách nhẹ nhàng, không một chút vướng bận.
Thông thường, người trước lúc lâm chung mà khao khát với một yêu cầu nào đó, nhất là tình yêu, mà được cam kết bằng lời hứa sẽ cảm thấy an tâm, ra đi theo nghiệp. Trong kiếp sau, người ấy sẽ có nguyên vọng tìm gặp lại người cũ. Họ chờ đợi nhau cho đến gặp được nhau như người trong mộng.
Có những cặp vợ chồng chênh lệch tuổi tác (không vì lý do tiền bạc) là vì họ đã hứa hẹn với nhau, nhưng việc sanh tử của hai người lại xảy ra lệch thời điểm. Không hiếm gì những người thân thể không thua kém ai, xinh gái, bảnh trai, khôn ngoan, lanh lợi, điều kiện có thừa, thế mà không tìm được một người bạn đời lúc còn son trẻ, đến khi tuổi đã xế chiều mới kết hôn. Bởi trong hứa hẹn, nếu người ra đi tin tưởng hoàn toàn vào người ở lại thì trong kiếp tái sanh đã có sẵn một mẫu người ngự trị trong tâm để tìm. Nếu chưa gặp được  mẫu người ấy, họ sẽ chờ và do vậy ở giá.
Có những người nữ đến tuổi lấy chồng, nhiều chàng trai làm quen tán tỉnh mà vẫn không ưa, dù cho người xin cưới là người giàu sang, phú quí, có sự nghiệp, danh vọng, địa vị chức tước. Người đời thường cho đó là sự kén chọn, nhưng theo quan điểm tái sinh của Phật giáo, do người này đã từng hứa hẹn với một người nào đó từ kiếp trước mà trong tái sanh họ không gặp lại nhau. Cho nên mẫu người chuẩn để kết hôn mà chưa tìm gặp đã làm nhiều người chọn chủ nghĩa độc thân. Vì thế, họ không thể chấp nhận bất cứ mối tình nào đến với họ.
Mô hình lý tưởng về người phối ngẫu trong tiềm thức từ quá khứ được mang theo đến tận bây giờ là một trở ngại cho kết hôn. Do vậy, những người khác đến không ăn khớp tiêu chuẩn đã có ấn tượng sâu sắc trong tiềm thức, họ cảm thấy xa lạ, không thiện cảm, không rung động, không an tâm thì làm sao có thể để trở thành đôi uyên ương gắn kết với nhau trong cuộc đời này.
Trở lại câu chuyện trên, sau khi chết, do lòng thương tưởng quá mạnh, người vợ khó có thể dứt bỏ, đi tái sanh mà có thể trở thành oan hồn quanh quẩn bên nhà để được gần gũi chồng con. Cô có thể xuất hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, mục đích là làm cho người chồng hiểu rằng, cô vẫn còn ở bên cạnh anh. Những nơi quen thuộc như nhà bếp, phòng ngủ hay những kỷ vật để lại, hoặc những vật dụng cô sắm cho chồng, cô có khả năng xuất hiện nơi đó.
Sau này, nếu anh chồng đem lòng yêu thương người con gái khác tâm đầu ý hợp, hình ảnh người vợ quá cố sẽ dần phai nhạt trong anh. Có một số trạng huống tâm lý do ấn tượng về người tình cũ nhiều quá, nên khi nhìn thấy ai có điểm nào đó giống người quá cố như ánh mắt, nụ cười, vóc dáng, cá tính hay cách ăn mặc v.v… bỗng dưng anh có thiện cảm và kéo theo tình yêu. Tình yêu ấy không phải phát xuất từ con người hiện hữu mà phát khởi thông qua hình ảnh của người đã mất. Từ sự hoài tưởng về người chồng, người vợ quá cố, nhiều người lầm nhận là tình yêu nên đi đến quyết định kết hôn. Lúc đó nếu hương linh người quá cố thủy chung, biết được người ở lại bội ước, cảm thấy khổ đau.
Có trường hợp, trước ngày tổ chức lễ cưới, người quá cố xuất hiện với thái độ không vui, nói với người bội ước rằng: “Tại sao hứa suốt đời chung thủy với tôi mà bây giờ mình lại kết hôn với người khác?” Có trường hợp linh hồn người mất xuất hiện liên tục, nói lên những lời trách móc làm cho người thất hứa khủng hoảng tinh thần.
Trong thực tế đã có trường hợp xảy ra như vậy. Có lần, có tình trạng một người chồng bội ước, bị hồn ma của vợ về nhát đã đến gặp một vị Hoà thượng. Ngài đã chỉ cho anh như sau: Tối nay, trước lúc ngủ anh chú tâm mơ tưởng đến người vợ quá cố, tự bày tỏ sự hối hận với người vợ rằng, anh đã lỡ thương yêu người kia rất giống hình ảnh của em. Anh cưới cô ấy cũng vì muốn hình ảnh em còn mãi trong trái tim anh. Mong em thông cảm cho anh. Nếu sau khi nghe anh bày tỏ như vậy, mà người vợ quá cố của anh xuất hiện với thái độ đồng ý thì anh khuyên cô ta nên trở về qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng, đừng níu kéo tình cảnh âm dương này nữa. Bởi sự níu kéo làm cho em không thể tái sanh mà phải mang nặng nỗi khổ niềm đau. Anh sẽ thiết lễ, thỉnh Hòa thượng đến cầu siêu giúp em sớm được giải thoát.
Nếu sau khi anh trình bày, người vợ quá cố xuất hiện với thái độ không đồng ý, không tha thứ thì anh cũng yêu cầu cô ấy đáp ứng điều kiện anh đưa ra thì anh sẽ giữ lời hứa lúc ban đầu.
Về nhà, anh làm theo lời chỉ dạy của Hòa Thượng. Đêm đó, anh thấy người vợ quá cố xuất hiện, không đồng ý lại còn cho biết, cô sẽ phá không cho anh hạnh phúc với người vợ mới. Sau đó, anh làm theo cách chỉ dạy thứ hai của Hòa Thượng, anh lấy một tô đậu xanh để trên đầu giường, dùng tay nắm một mớ hạt đậu giơ lên và nói với cô ấy:“Nếu em nói được trong tay anh có bao nhiêu hạt đậu thì anh sẽ chung thủy với em trọn đời.”
Giả sử hồn ma im lặng không trả lời thì biết rằng anh đang rơi vào trạng thái ảo giác chứ không phải thật. Ảo giác có thể xuất hiện như một phản ứng tâm lý mặc cảm tội lỗi rằng mình không thực hiện lời hứa với vợ trước khi chết. Lòng mặc cảm đó làm anh ray rứt lương tâm, khó chịu.  Do vậy, mỗi lần hạnh phúc với người tình mới thì nỗi khổ gia tăng, khống chế, lúc đó anh hình dung người vợ quá cố đang quanh quẩn đâu đây.
Thực ra, trong câu chuyện này, khi người chồng hỏi cô vợ quá cố về số hạt đậu trên tay, cô trả lời vanh vách, anh đang cầm trên tay năm mươi bốn hạt đậu. Anh mở bàn tay ra đếm, số hạt đậu trong tay anh đúng năm mươi bốn hạt. Anh giật mình, hoảng sợ, lo lắng trong lòng linh cảm có điều bất an sắp xảy ra.
Hôm sau, anh đến trình bày với Hòa thượng sự việc xảy ra tối qua. Hòa thượng bảo rằng:“Vợ anh chưa được siêu sinh”. Bây giờ, vấn đề này tùy thuộc nơi anh. Nếu anh thật sự còn thương yêu người vợ quá cố, anh có thể làm thêm một phép thử khác hoặc hoãn lại cuộc hôn nhân mới.
Anh thưa:“Con không thể bỏ cô vợ mới được, vì con thật lòng yêu thương cô ấy. Hồn ma của vợ cứ quanh quẩn bên con thì con khủng hoảng mất. Hòa thượng hãy giúp con.”
Hòa thượng dạy, anh giả vờ không thương yêu cô vợ mới trong một tháng. Đêm nào anh cũng đứng trước bàn thờ của vợ với gương mặt buồn bã, khấn nguyện để cho hồn ma cô ấy cảm thấy thoả mãn và hiểu rằng anh rất chung thủy và yêu thương cô. Rồi anh dùng chiêu thức tâm lý nói với cô ấy, cảnh giới cõi âm không phải là cảnh giới sống lâu dài, mà linh hồn cần phải hướng về cảnh giới tái sanh. Em hãy tái sanh làm người mới và chờ đợi anh. Anh cũng sẽ ra đời gặp lại em và mình sẽ chung sống hạnh phúc bên nhau. Nghĩa là làm sao anh chứng minh cho linh hồn cô ấy tin chắc rằng, anh yêu thương cô ấy hết lòng, hết dạ. Lúc đó cô ấy mới đi tái sanh được.
Qua câu chuyện trên, ta thấy sự níu kéo tình cảm yêu thương là một cản lực lớn, làm trở ngại việc tái sanh, khiến cho thần thức tồn tại lâu dài dưới dạng hồn ma. Những nghiệp thức tồn tại dưới dạng hồn ma bóng vía được Phật giáo gọi chung là ngạ quỷ, được kinh điển mô tả: cổ nhỏ bằng cây kim, bụng to như bụng ông địa.
Ngạ quỷ có tỉ lệ nghịch giữa con đường chu cấp thực phẩm vào trong cơ thể vật lý với cái bụng. Cái bụng to thì cần phải chu cấp thực phẩm nhiều mới đáp ứng được nhu cầu của nó, nhưng sự nghịch lý là cái cổ họng lại quá bé, để ăn cho no cái bụng bự ấy là việc hết sức khó khăn. Do đó, nhu cầu ăn uống của ngạ quỷ không được thoả mãn.Vì vậy, thần thức tồn tại dưới dạng hồn ma thì nỗi khổ, niềm đau của cảm giác đói khát gia tăng rất lớn.
Cần phải khôn khéo làm cho người thân ra đi thanh thản, an tâm, không vướng mắc để thần thức không tồn tại dưới dạng hồn ma. Cần hỗ trợ cho người phối ngẫu ra đi nhẹ nhàng bằng cách chung tình với họ trong một thời gian, ít nhất là một năm.
Trong thời gian bốn mươi chín ngày, thần thức có thể vẫn còn quanh quẩn đâu đây, bởi tiếc nuối sự sống thế gian, nhất là đối với tình yêu nam nữ. Trường hợp những đôi vợ chồng còn son trẻ, tha thiết yêu thương mà phải xa nhau do cái chết thì sự tiếc nuối tình yêu diễn ra với cường độ cao gấp hàng chục lần so với sự tiếc nuối tình cảm giữa cha mẹ, con cái. Tình cảm giữa cha mẹ và con cái nó thiên về bổn phận nhiều hơn, còn với tình yêu là sự thu hút giới tính, xúc tác rất mạnh trong tử sinh và luân hồi. Ở đâu có tình yêu, ở đó tiếp tục có sự sống và tái sanh.
Con người và các loài động vật có mặt trên trái đất này là do tình yêu thương và tình dục. Vì vậy, khi vợ chồng xa lìa nhau do cái chết, người đi trước yêu cầu người còn sống thủ tiết trong vòng một năm là vô cùng cần thiết cho thần thức của người ra đi. Nếu không có sức chịu đựng thì ít nhất cũng là bốn mươi chín ngày. Vì mọi hành động của người còn sống, thần thức của người quá cố đều theo dõi, quan sát một thời gian. Đến khi nào cảm thấy người ở lại trung thành, chung thủy, lúc đó họ mới tái sanh.
Một thần thức tồn tại dưới dạng ngạ quỷ quá lâu sẽ xuất hiện chấp thủ. Lúc đầu, thần thức thấy cảnh giới đó là niềm đau, nhưng khi đã tồn tại lâu dài, tạo nên những nghiệp mới, họ chấp nhận những hoàn cảnh khổ đau ấy mà không mong cầu hạnh phúc.
Ta nên đầu tư thật nhiều cho người thân bằng nhiều cách như: tụng niệm, bái sám, phóng sanh, làm phước, hồi hướng công đức làm sao cho họ hiểu rằng, thân thể này không phải là của tôi, tôi không phụ thuộc vào thân thể vật lý này, dòng cảm xúc hạnh phúc và khổ đau này không thuộc về tôi, tôi không bị lệ thuộc vào dòng cảm xúc đó. Đây là phương pháp quán tưởng, tách rời thân thể vật lý khỏi dòng cảm xúc để không còn bám víu vào thân thể nữa. Từ đó dứt bỏ mọi luyến tiếc mà siêu sanh thoát hóa.
Ngược lại, khi thần thức còn bám víu, chấp trước vào hạnh phúc của tình yêu, tình vợ chồng nhưng do không được thỏa mãn, người chết cảm thấy khổ đau và tiến trình tái sanh khó diễn ra. Còn nếu thần thức cố chấp, không tha thứ, không hoan hỷ, không buông xả thì người chết sẽ trở thành hồn ma sân giận đi quậy phá người sống, họ làm cho người sống sợ hãi, khổ đau, khủng hoảng tâm lý.

Cõi Tiên, Trời và A-tu-la

CÕI TIÊN
Thường các kinh nguyên thủy (thời kỳ đầu) thì nói có sáu đạo, nhưng các kinh đại thừa thì thêm một đạo nữa là cõi tiên. Như vậy, chúng ta có bảy cõi là cõi trời, tiên, a-tu-la, người, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Phần trước đã nói về địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh, chương này sẽ nói đến ba cõi là cõi tiên, cõi trời và a-tu-la.
Tiên là những chúng sinh trên loài người, nhưng không nương theo giới định tuệ, không biết tam-ma-đề, lại riêng tu theo vọng niệm, để tâm củng cố hình hài, vào trong rừng núi, những chỗ người ta không đến được, thành mười thứ tiên. Mười thứ tiên như sau:
“A Nan, các chúng sinh kia, kiên cố dùng đồ bổ mà không dừng nghỉ, khi đạo ăn được thành tựu, thì gọi là Địa hành tiên.
Kiên cố dùng cỏ cây mà không dừng nghỉ, khi đạo thuốc được thành tựu, thì gọi là Phi hành tiên.
Kiên cố dùng kim thạch mà không dừng nghỉ, khi đạo hóa chất được thành tựu, thì gọi là Du hành tiên.
Kiên cố làm những động tác mà không dừng nghỉ, khi khí tinh được thành tựu, thì gọi là Không hành tiên.
Kiên cố luyện nước bọt mà không dừng nghỉ, khi nhuận đức được thành tựu, thì gọi là Thiên hành tiên.
Kiên cố hấp thụ tinh hoa mà không dừng nghỉ, khi hấp thụ được thành tựu, thì gọi là Thông hành tiên.
Kiên cố làm thuật phù chú mà không dừng nghỉ, khi thuật pháp được thành tựu, thì gọi là Đạo hành tiên.
Kiên cố chuyên chú tâm niệm mà không dừng nghỉ, khi chuyên niệm được thành tựu, thì gọi là Chiếu hành tiên.
Kiên cố về thủy hỏa giao cấu mà không dừng nghỉ, khi cảm ứng được thành tựu, thì gọi là Tinh hành tiên.
Kiên cố tập luyện biến hóa mà không dừng nghỉ, khi giác ngộ được thành tựu, thì gọi là Tuyệt hành tiên”.
“A Nan, các vị ấy đều ở trong loài người mà luyện tâm, tuy không tu chính giác, nhưng riêng được lẽ sống, thọ ngàn vạn tuổi, nghỉ ở trong núi sâu hoặc trên đảo giữa bể cả, cách tuyệt chỗ người ở; đó cũng là vọng tưởng luân hồi lưu chuyển. Nếu không tu phép Tam muội, thì khi quả báo hết rồi, trở lại tản vào trong lục đạo”[1].
Tiên là những người bỏ chốn thế gian ồn náo, vinh hoa phú quý, danh lợi thị phi, ẩn mình trong hang, trong núi, hải đảo, nơi mà loài người không đến được để tu theo những pháp củng cố hình hài, trường thọ sống lâu, chớ không tu tập theo giới định tuệ.
Do tu nhân riêng biệt thành quả hư vọng, do tu luyện pháp trường sanh nên tiên cũng có thần thông, khinh an, sống thọ, nhưng dù có thọ đến đâu thì tiên vẫn còn bị chi phối bởi luật sanh tử và cũng có ngày thân này phải tan mà đọa lạc.
1. Địa hành tiên: đồ bổ của những người tu tiên, chỉ có họ mới biết với nhau, mình mà dùng nhiều đồ bổ thì nó thành độc, phải có những món thuốc đặc biệt. Một số vị kiên cố dùng đồ bổ, chuyên dùng những loại chất bổ không dừng nghỉ. Khi chất bổ này thành tựu thì vị tiên đó đi trên mặt đất rất nhẹ nhàng vậy.
2. Phi hành tiên: vị này nếm theo vị của từng loại cỏ cây, biết loại nào trị bịnh nào, loại dược thảo nào dùng vào khiến cơ thể khoẻ mạnh, khoan khoái, bình an. Như các ông lang thầy thuốc, cắt, phơi khô hay sao cây cỏ lên, rồi nghiền nát thành bột, bào chế dùng để trị bịnh. Cũng thế do chuyên dùng cỏ cây, các loại thuốc dược thảo nên cơ thể các vị tiên rất khoan khoái an ổn. Và tiên luyện như vậy liên tục, không dừng nghỉ. Khi thuốc này thành tựu thì tiên phi hành như bay, đi như bay.
3. Du hành tiên:     trong đá có nhiều loại ngọc, vàng, kim khí, đá ngọc rồi tiên mài, nấu, ngâm, bào chế các chất này thế nào đó để họ dùng được. Kiên cố bền tâm lâu dài dùng các loài bào chế này không dừng nghỉ. Khi công phu thành tựu thì vị này sẽ đi nhanh như chạy, để thấy cái khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cứng cáp của cơ thể.
Ở đỉnh núi Thị vải, Bà-rịa, Vũng Tàu, có một người sống ở đấy. Chỗ ở của ông chỉ là một cái lều, nằm ngủ ở trên một cái chõng và trồng mấy cây bắp rau để ăn. Ông làm nghề đi gánh thuê buôn bán dưới chân núi. Thế cho nên buổi sáng ông phải từ đỉnh núi đi xuống chợ gánh thuê để lấy tiền sinh sống. Đến chiều xong việc rồi lại lên núi tiếp.
Từ chân núi đến đỉnh núi là chúng ta phải trèo hì hục mất cả ngày, nhưng chân ông bước nhanh như chạy thoăn thoắt như thỏ mà không bám vào đâu cả, thoáng một cái ông đã đến đỉnh núi rồi. Chắc là kiếp trước ông có tu tiên, được quả du hành tiên này nên kiếp này thật lạ lùng là lên đỉnh núi mà ở một mình yên tĩnh và đi nhanh như chạy.
4. Không hành tiên: kiên cố bền chí hoạt động, tập thể dục có phương pháp, những động tác có bài bản. Tập như thế không ngừng, như đây đã nói hai chữ kiên cố, thì mới hy vọng thành công, chứ không phải là dễ được. Khi phương pháp tập khiến cho cơ thể nhẹ mạnh này được thành tựu, vị tiên này đi được ở trong hư không, đi như thoảng qua gió mà mình không hay.
5.Thiên hành tiên: kiên cố luyện nước bọt không dừng nghỉ. Nước bọt rất bổ và chuyên dùng luyện. Khi nhuận đức này thành tựu thì vị này gọi là Thiên hành tiên.
6. Thông hành tiên: kiên cố hấp thụ tinh hoa không dừng nghỉ. Buổi sáng, trưa, chiều, tiên hướng về mặt trời nhìn đăm đăm vào mặt trời để thâu cái tinh khí của mặt trời. Khi luyện thành tựu thì vị này gọi là Thông hành tiên.
7. Đạo hành tiên: kiên cố luyện những loại phép thuật phù chú bay loạn không dừng nghỉ. Khi thuật pháp được thành tựu thì gọi là Đạo hành tiên.
8. Chiếu hành tiên: kiên cố chuyên chú tâm niệm không dừng nghỉ. Các vị này cũng có phép thuật của họ, chuyên một câu nào đó khi thành tựu thì thành Chiếu hành tiên có ánh sáng chiếu quanh tiên.
9.Tinh hành tiên: thủy hỏa giao cấu giao nhau không dừng nghỉ. Khi cảm ứng được thành tựu thì gọi là Tinh hành tiên.
10. Tuyệt hành tiên: kiên cố tập luyện biến hoá không dừng nghỉ. Khi thành công mà đây tiên gọi là giác ngộ thì thành Tuyệt hành tiên.
Như vậy, tiên cũng có từng danh hiệu riêng nhau. Tu tiên nhưng mỗi người tu mỗi cách, ở đây Phật nói cho chúng ta biết là có mười loại tiên.
Mỗi vị tiên, Đức Phật đều nhắc lại hai chữ kiên cố tức phải có công phu tinh tấn không dừng nghỉ. Những việc tu luyện này phải bền tâm lâu dài và mắc công, chứ không qua loa cho xong mà được đâu. Kiên cố và có tâm luyện tập, tiên phải hơn mình vì có tinh thần, sức khoẻ và sống thọ, nhưng cũng không phải là tiên không chết. Hết phước, hết thọ rồi thì tiên cũng đọa, nên Đức Phật cũng khuyên chúng ta không nên nguyện tu theo những hạnh này, vì  còn lẩn quẩn trong tam giới.

CÕI TRỜI DỤC GIỚI (còn dục)
A Nan, các người thế gian, không cầu đạo thường trụ, chưa có thể rời bỏ được sự ân ái với vợ mình, nhưng tâm không buông lung trong việc tà dâm, do tâm đứng lặng sinh ra sáng suốt, sau khi mệnh chung ở gần với mặt trời, mặt trăng; một loài như thế, gọi là Tứ Thiên Vương Thiên.
Đối với vợ mình, dâm ái ít ỏi, trong lúc tịnh cư, không được toàn vị, thì sau khi mệnh chung, vượt ánh sáng mặt trời, mặt trăng, ở trên chóp nhân gian; một loài như thế, gọi là Đao Lợi Thiên.
Gặp cảnh dục tạm theo, bỏ đi không nhớ nghĩ, ở trong nhân gian, động ít, tĩnh nhiểu, thì sau khi mệnh chung, sáng rỡ ở yên trong cõi hư không, ánh sáng mặt trời, mặt trăng không soi đến được; và những người ấy tự mình có ánh sáng; một loài như thế, gọi là Tu Diệm Ma Thiên.
Lúc nào cũng tĩnh, nhưng khi có cảm xúc đến bên mình, chưa chống đối được, thì sau khi mệnh chung, lên trên chỗ tinh vi, không tiếp với những cảnh nhân thiên cõi dưới, cho đến gặp hoại kiếp, tam tai cũng không đến nơi; một loài như thế, gọi là Đâu Suất Đà Thiên.
Chính mình không có tâm dâm dục, chỉ đáp ứng với người khác mà làm, trong lúc phô bày, vô vị như ăn sáp, thì sau khi mệnh chung, vượt lên sinh vào cảnh biến hóa; một loài như thế, gọi là Lạc Biến Hóa Thiên.
Không có tâm thế gian, chỉ đồng với thế gian mà làm việc ngũ dục; trong lúc làm việc ấy, rõ ràng là siêu thoát, thì sau khi mệnh chung, vượt trên tất cả những cảnh biến hóa và không biến hóa; một loài như thế, gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên.
A Nan, sáu cõi trời như thế, hình thức tuy khỏi động, nhưng tâm tính còn dính dấp; từ các cõi ấy trở xuống, gọi là Dục Giới[2].
Dục giới là những vị này chưa rời bỏ được ân ái, dục nhiễm. Họ tu thập thiện, thiền định, bố thí nhưng vẫn còn dục nhiễm. Tùy theo lòng dục giảm nhẹ đến đâu thì ở trên cõi trời cao đến nấy. Các vị trời dục giới thân hình tuy không động nhưng tâm còn dấu vết. 
Từ cõi trời dục giới thứ sáu trở xuống là từ cõi Tha hoá tự tại thiên trở xuống vẫn còn bị tam tai tức cõi dục giới còn tam tai. Tam tai: có lửa (vì có dục nên còn lửa), gió (thổi tan xác đi), bão lụt (nước nhận chìm).
Cõi dục giới thứ sáu là cõi trời Tha hoá tự tại thiên: chỉ đồng thế gian mà làm việc ngũ dục. Như chúng ta không thiết ăn nhưng đến bữa cơm vẫn vào ngồi ăn mà không có cảm giác gì. Tuy là đáp ứng vợ chồng nhưng dục cảm vô vị tức tâm vị trời này không thiết tha nữa, nên siêu thoát.
Từ trạng thái chán dục này mới bước lên cõi trời sắc giới là không còn dục nữa.
Đức Phật khi sắp thành Phật rồi mà ngài ở cõi trời Dục giới là một cõi rất thấp trong các cõi trời. Voi trắng sáu ngà từ cung trời Đâu Suất thiên (cõi thứ tư của dục giới) giáng trần. Thật ra đây là Đức Phật hiện thân ở cõi trời Đâu Suất chứ không phải bị nghiệp lực và đọa ở cảnh ấy. Vì nguyện lực, bồ tát mới hiện thân ở cõi ấy. Tương lai Đức Phật Di Lặc cũng từ Đâu Suất xuống ta bà.
Các đức Phật vì nguyện lực giáng sanh xuống trần, khi tái sanh đều giáng sanh vào dòng thắng lưu có phước đức tức là dòng thù thắng, tức là cõi trời hoặc ngài sanh vào dòng quý phái Thích Ca vua chúa sát-đế-lợi là giới quan quyền thượng lưu trong xã hội, còn nghèo hèn tầm thường gọi là hạ lưu.
Tu nhân gì để về cõi Đâu suất? Phải có thiền định, phải có thập thiện, tâm dục nhẹ.
Đâu Suất nội viện khác với Đâu suất là thế nào?
Đối với những tầng trời sắc và vô sắc, những cõi trên, thì Đâu Suất hãy còn nặng nghiệp lắm.
Nội viện Đâu suất là những vị có duyên với Đức Phật Di Lặc. Viện là chỗ an trú viện của Đức Phật Di Lặc. Người nào có duyên, có nguyện chịu sự giáo hoá của Đức Phật Di Lặc thì chọn cõi Đâu suất nguyện về vì có Đức Phật Di Lặc giảng pháp. Đức Phật Thích Ca cũng ở đấy để giảng pháp. Giảng Thắng Pháp tập yếu luận cho mẫu hậu Ma-ya trong bảy ngày.

CÕI TRỜI SẮC GIỚI (ly dục)
A Nan, tất cả những người tu tâm trong thế gian, không nhờ Thiền na, thì không có trí tuệ.
Người nào giữ được cái thân không làm việc dâm dục, trong lúc đi, lúc ngồi, đều không nghĩ  nhớ, lòng ái nhiễm không sinh, không còn ở trong Dục Giới, thì bản thân liền được làm phạm lữ; một loài như thế, gọi là Phạm Chúng Thiên.
Tập quán ngũ dục đã trừ rồi, tâm ly dục hiện ra, vui vẻ thuận theo các luật nghi, thì người đó liền có thể thực hành những phạm đức; một loài như thế gọi là Phạm Phụ Thiên.
Thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, uy nghi không thiếu, cấm giới trong sạch, lại có thêm trí sáng, thì người đó liền được thống lĩnh phạm chúng, làm Đại Phạm Vương; một loài như thế gọi là Đại Phạm Vương.
A Nan, ba loài tốt đó, tất cả khổ não không bức bách được; tuy không phải chân chính tu phép Tam ma đề của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc của Dục Giới không lay động được, nên gọi là Sơ Thiền.
A Nan, thứ nữa, các hàng Phạm Thiên khi thống lĩnh phạm chúng, lại tu tập phạm hạnh được viên mãn, làm cho tâm đứng lặng không lay động, và do sự đứng lặng ấy, sinh ra sáng suốt; một loài như thế gọi là Thiểu Quang Thiên.
Hào quang sáng suốt thêm nhiều, chói sáng không cùng, ánh vào thập phương thế giới đều thành trong sáng như ngọc lưu ly; một loài như thế, gọi là Vô Lượng Quang Thiên.
Nắm giữ hào quang viên mãn, tạo thành giáo thể, phát ra sự giáo hóa thanh tịnh, ứng dụng không cùng; một loài như thế, gọi là Quang Âm Thiên.
A Nan, ba loài tốt ấy, tất cả lo buồn không bức bách được; tuy không phải chân chính tu hành phép Tam ma đề của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc thô động đã dẹp xuống, nên gọi là Nhị thiền.
A Nan, những loài trời như thế, khi dùng hào quang viên mãn làm việc giáo hóa, do sự giáo hóa càng rõ lẽ nhiệm mầu, phát ra hạnh tinh tiến, thông với cái vui yên lặng; một loài như thế gọi là Thiểu Tịnh Thiên.
Cảnh thanh tịnh hiện tiền, dẫn phát không có bờ bến, thân tâm được khinh an, thành cái vui yên lặng; một loài như thế gọi là Vô Lượng Tịnh Thiên.
Thế giới và thân tâm, tất cả hoàn toàn thanh tịnh, đức thanh tịnh được thành tựu, cảnh giới thù thắng hiện tiền, dồn về vui yên lặng; một loài như thế gọi là Biến Tịnh Thiên.
A Nan, ba loài tốt đó, đầy đủ công hạnh đại tùy thuận, thân tâm yên lặng, được cái vui vô lượng; tuy không phải chân chính được phép Tam ma đề của đạo Phật, nhưng trong tâm yên ổn, hoan hỷ được đầy đủ, nên gọi là Tam Thiền.
A Nan, lại nữa, những loài trời đó, thân tâm không bị bức bách, nguyên nhân của khổ đã hết, lại xét cái vui không phải thường trụ, lâu rồi cũng phải tiêu tan, nên cả hai tâm khổ và vui, đồng thời đều phóng xả; những tướng thô nặng đã diệt, thì phúc thanh tịnh sinh ra; một loài như thế, gọi là Phúc Sinh Thiên.
Tâm phóng xả được viên mãn, sự nhận hiểu cao xa càng thanh tịnh; trong cái phúc không gì trở ngại đó, được sự tùy thuận nhiệm mầu cùng tột vị lai; một loài như vậy, gọi là Phúc Ái Thiên.
A Nan, từ cõi trời đó, có hai đường trẽ : Nếu dùng cái tâm sáng suốt thanh tịnh vô lượng trước kia, mà tu chứng an trụ nơi phúc đức viên mãn sáng suốt, thì một loài như thế, gọi là Quảng Quả Thiên.
Nếu nơi cái tâm trước kia nhàm chán cả cái khổ và cái vui, lại nghiền ngẫm cái tâm phóng xả, tiếp tục không ngừng, đi đến cùng tột sự phóng xả, thân tâm đều diệt hết, ý nghĩ bặt mất, trải qua năm trăm kiếp, người ấy đã lấy cái sinh diệt làm nhân, thì không thế phát minh tính không sinh diệt, nên nửa kiếp đầu thì diệt, nửa kiếp sau lại sinh; một loài như thế gọi là Vô Tưởng Thiên.
A Nan, bốn loài tướng tốt ấy, tất cả những cảnh khổ, vui trong thế gian không lay động được; tuy không phải là chỗ bất động chân thật của đạo vô vi; song, nơi cái tâm hữu sở đắc, công dụng đã thuần thục, nên gọi là Tứ Thiền.
A Nan, trong đó, lại có năm bậc Bất Hoàn Thiên, các vị này đã diệt hết tập khí chín phẩm tư hoặc trong cõi dưới rồi, khổ, vui không còn, bên dưới không có chỗ ở, nên an lập chỗ ở nơi chúng đồng phận của tâm phóng xả.
A Nan, khổ, vui cả hai đều diệt, không còn tâm niệm ưa ghét; một loài như thế, gọi là Vô Phiền Thiên.
Tự tại phóng xả, không còn năng xả, sở xả; một loài như thế, gọi là Vô Nhiệt Thiên.
Khéo thấy thế giới mười phương thảy đều đứng lặng, không còn tất cả những cấu nhiễm trầm trọng của trần cảnh; một loài như thế, gọi là Thiện Kiến Thiên.
Tri kiến thanh tịnh hiện tiền, sử dụng được không ngăn ngại; một loài như thế, gọi là Thiện Hiện Thiên.
Quán sát rốt ráo các cực vi, cùng tột tính của sắc pháp, vào tính không bờ bến; một loài như thế, gọi là Sắc Cứu Kính Thiên.
A Nan, những bậc Bất Hoàn Thiên đó, chỉ riêng bốn vị Thiên Vương Tứ Thiền được có kính nghe, nhưng không thể thấy biết; cũng như hiện nay, có các thánh đạo trường nơi rừng sâu đồng rộng thế gian, đều là những nơi trụ trì của các vị A La Hán, nhưng những người thô thiển thế gian không thể thấy được.
A Nan, mười tám loài trời đó, tâm thường ở trong định, không dính dáng với trần cảnh, song chưa hết cái lụy của hình hài; từ đó trở về, gọi là Sắc Giới[3].

Chúng ta có thể hiểu các cõi trời sắc giới như sau:
Sơ thiền: Phạm chúng thiên, Phạm Phụ Thiên. Đại Phạm Thiên.
Nhị thiền: Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang thiên, Quang Âm Thiên.
Tam thiền: Thiểu Tịnh thiên, Vô Lượng Tịnh thiên, Biến Tịnh thiên.
Tứ thiền: Phước Sanh Thiên, Phước Ái thiên, Quảng Quả thiên và Vô Tưởng thiên.
Ngũ Tịnh Cư Thiên:     Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt thiên, Thiện Kiến thiên, Thiện Hiện thiên, Sắc Cứu Cánh thiên.
Cõi sơ thiền tuy không phải chánh định, nhưng không có nhiễm, không có những lỗi lầm như của dục giới nên thoát được các khổ não. Các vị này đã thoát những dục tâm, ngũ dục (sắc thanh hương vị xúc) tuy nhiên họ vẫn còn cái lụy hình hài, nên gọi cõi sắc.
Như vậy, vừa lên đến sơ thiền là bắt đầu hết lòng dục.
Lên nhị thiền thì thoát ly được các ưu thụ, trong tâm thanh tịnh. Tất cả tuy không tu chánh định nhưng đã uốn dẹp được các thô lậu tức lầm lạc thô thiển.
Rồi lên đến cõi tam thiền thì rời bỏ được cái hỷ thọ ở nhị thiền, được cái vui khinh an vô lượng, nên thân tâm cho đến cảnh giới thảy đều thanh tịnh. Trong Phật giáo hay ví vui như vui ở cõi tam thiền.
Cõi tứ thiền đã thoát ly được các cảnh khổ, vui thế gian, nên tuy không phải là chánh định, nhưng trong tâm đã có chỗ sở đắc, công phu cũng đã bắt đầu thuần thục và phước báo cũng cao.
Các vị này tham, sân, si không hiện lên được, nếu loại bỏ được thì chứng A-la-hán, có định lực hàng phục được, nhưng còn ở trong đường luân hồi vì vẫn còn trụ pháp, trụ sắc thân.

CÕI TRỜI VÔ SẮC GIỚI (ly sắc thân)
Lại nữa, A Nan, từ chỗ cao nhất của Sắc giới, lại có hai đường trẽ. Nếu nơi tâm phóng xả, phát minh được trí tuệ, trí tuệ sáng suốt viên thông, thì ra khỏi cõi trần, thành vị A La Hán, vào Bồ Tát thừa; một loài như thế, gọi là Hồi Tâm Đại A La Hán.
Nếu nơi tâm phóng xả, khi thành tựu được sự phóng xả rồi, lại cảm thấy cái thân làm ngăn ngại và tiêu cái ngăn ngại ấy vào hư không, thì một loài như thế gọi là Không xứ.
Các chất ngại đã tiêu trừ rồi, nhưng không diệt được cái vô ngại, trong đó chỉ còn thức A lại da và còn nguyên vẹn phần nửa vi tế của thức Mạt na; một loài như thế, gọi là Thức xứ.
Sắc và không đã hiết, cái tâm biết là hết ấy cũng diệt trừ, mười phương vẳng lặng, không còn gì nữa; một loài như thế, gọi là Vô sở hữu xứ.
Thức tính vốn không lay động, lại dùng cái diệt mà diệt đến cùng; trong chỗ không thể hết, phát minh nhận cho là hết, nên hình như còn, mà không phải còn, hình như hết, mà không phải hết; một loài như thế, gọi là Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Bọn này xét cùng cái không, nhưng không tột lý không; nếu từ thánh đạo cõi trời Bất Hoàn mà xét cùng, thì một loài như thế, gọi là Bất Hồi Tâm Độn A La Hán. Nếu từ cõi trời Vô Tưởng và ngoại đạo mà xét cùng cái không, không biết trở về, mê lầm không nghe chính pháp, thì sẽ vào trong luân hồi.
A Nan, trên các cõi trời đó, mỗi mỗi đều là những phàm phu hưởng sự báo đáp của nghiệp quả và khi sự báo đáp ấy hết rồi, thì trở vào trong luân hồi. Thiên vương các cõi kia, thường là Bồ Tát, dùng Tam ma đề mà lần lượt tiến lên, hồi hướng về đường tu hành đạo Phật.
A Nan, những cõi trời Tứ Không đó, thân tâm diệt hết, định tính hiện tiền, không có sắc pháp của nghiệp quả; từ đó đến cuối cùng, gọi là Vô Sắc Giới.
Bọn đó, đều do không rõ Diệu giác minh tâm, chứa nhóm cái vọng, mà giả dối phát sinh ra ba cõi, giả dối theo bảy loài trong đó, mà chìm đắm và cá thể thụ sinh cũng theo từng loài[4].
Các vị này chẳng những thọ mà đến tưởng cũng không, nhưng còn ở trong hành ấm. Coi như lạc ở Vô sắc rồi thì không còn trần tướng, hôn trầm, ngũ trược, căn cảnh đối nhau.
Dục giới:   còn dục và còn sắc,
Sắc giới:    hết dục nhưng còn sắc,
Vô sắc giới: không dục và không sắc và những cõi này xa xôi lắm, không biết gì. Ở trong định lực thấy không, thấy huyễn, nhưng không nắm được lý không để nhận được tánh chân không, thành ra trụ vào cái không không đó, khi hết định lực thì đọa xuống nên vẫn còn luân hồi.

Các vị này vẫn còn thức mạt na vi tế và chưa biết rõ đường đi tam-ma-đề. Các ngài ở cõi vô sắc giới xả được phần thô mà chưa xả được phần vi tế vì không biết làm sao mà xả. Còn thân là còn chướng ngại, các ngài không còn thân nữa nhưng còn vô ngại, còn trụ định là ta. Bởi vì thức a-lại-da tuy nó vô ngại nhưng nó vẫn còn chấp trì. Nên các vị này vẫn còn thức thực và tư thực trong bốn thực (như đã nói ở phần tam tiệm thứ), vẫn còn thức chấp duy trì mạng vị.

CÕI A-TU-LA
Lại nữa, A Nan, trong ba cõi trời ấy, còn có bốn giống A tu la.
Nếu từ loài quỷ, do sức bảo hộ chính pháp, được thần thông vào hư không, thì giống A tu la này, từ trứng sinh ra, thuộc về loài quỷ.
Nếu từ cõi trời, đức kém phải sa đọa, chỗ ở gần với mặt trời, mặt trăng, thì giống A tu la đó, từ thai sinh ra, thuộc về loài người.
Có chúa A tu la, nắm giữ thế giới, sức mạnh đến chỗ không phải sợ ai, có thể tranh quyền với Phạm Vương, Đế Thích và Tứ Thiên Vương; giống A tu la này, nhân biến hóa mà có, thuộc về loài trời.
A Nan, riêng có một số A tu la thấp kém, sinh ra trong lòng biển lớn, lặn trong thủy huyệt, ban ngày đi chơi trên hư không, tối về ngủ dưới nước; giống A tu la này, nhân thấp khí sinh ra, thuộc về loài súc sinh.
A-tu-la là loài quỷ thần hay còn gọi là phi thiên (không phải các vị trời như vừa nêu trên). Tuy a-tu-la có thần thông biến hoá, nhưng còn nhiều lòng sân hận, tranh đấu hơn thua sát phạt nên không được lên cõi trời.
Có bốn loại a-tu-la:
1. A-tu-la trời (do hoá sanh),
2.     A-tu-la người (do thai sanh),
3.     A-tu-la quỷ (do noãn sanh),
4.     A-tu-la bàng sanh (do thấp sanh).
Trong vòng luân hồi, Đức Phật minh họa hình ảnh a-tu-la là tay cầm cung tên, đao gươm và đánh chém tranh hơn tranh thua sát phạt với nhau.[5]
Đây là những cõi tu nhân riêng biệt mà gặt quả hư vọng nên còn luân hồi.